Người Đông Khương giữ “hồn quê”

Nằm cạnh dòng sông Thu Bồn, làng Đông Khương, nay thuộc xã Điện Phương, thị xã Điện Bàn. Đây là ngôi làng có truyền thống lịch sử ở xứ Quảng, nơi sinh Hiếu Chiêu hoàng hậu, tức Đoàn Quý Phi, vợ của chúa Nguyễn Phúc Lan. Theo gia phả họ Đoàn thì năm Cảnh Hưng thứ 21, tức năm 1760, làng Đông Yên được chia thành hai giáp Đông – Tây. Làng Đông Yên Đông ra đời từ đó, và qua biến thiên thời gian, sau này đổi tên thành làng Đông Khương. Sông Thu Bồn, đoạn chảy qua Điện Phương, ngày xưa gọi là sông Sài Giang. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân đây là nơi trú đóng, luyện tập chiến đấu của thủy binh chúa Nguyễn. Đây cũng là nơi buôn bán tấp nập. Người làng Đông Khương bên cạnh nghề nông, cũng giỏi nghề mộc, nhiều hộ đã giữ nghề gia truyền qua nhiều đời. Về đình làng Đông Khương, các bô lão địa phương các sắc phong liên quan đến đình do một người trong làng giữ, nhà cháy, sắc phong bị thiêu hủy nên không còn tài liệu gì. May sao tại đình vẫn còn tấm bia đá được lập nhân dịp trùng tu lớn vào năm Thành Thái thứ 6, tức năm 1905. Văn bia cho biết đình được xây dựng để thờ tiền hiền, hậu hiền của 8 tộc làng Đông Khương đã có công khai đất lập làng, tạo dựng cơ nghiệp cho con cháu muôn đời. Lần trùng tu gần đây nhất vào năm 1961.

Nội thất đình làng Đông Khương sau trùng tu

Trong suốt cuộc đấu tranh cứu nước, đình làng Đông Khương đã trở thành chứng nhân lịch sử của nhiều sự kiện diễn ra trên đất Điện Phương, Điện Bàn. Ông Lê Kim Đính, 92 tuổi lão thành cách mạng xã Điện Phương kể: “Hồi Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông Lê Tuất đã tập họp nhân dân tại đình làng này rồi kéo về phủ Điện Bàn tham gia cướp chính quyền. Sau khi cách mạng thành công, đình làng trở thành nơi hội họp của nhân dân, nơi tổ chức các lớp bình dân học vụ để xóa mù chữ, nơi tập luyện của tự vệ. Cũng tại đình làng, năm 1946 tôi cùng với hai thanh niên Đông Khương được làm lễ đưa tiễn lên đường ra mặt trận Đà Nẵng tham gia chiến đấu chống thực dân Pháp quay lại xâm lược”.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đình Đông Khương cũng là nơi cán bộ, du kích và cơ sở cách mạng ở địa phương hội họp, bàn bạc công việc. Nghệ nhân nhân dân Nguyễn Văn Tiếp, người con làng Đông Khương, xã Điện Phương nhớ lại: “Gia đình tôi hồi đó nghèo, ngôi nhà tranh liếp tre dựng gần đình làng. Chiến tranh ngày càng ác liệt nên ban đêm ông nội tôi luôn dẫn anh em tôi ra đình ngủ cho an toàn. Nội tôi ngủ trên bộ phản, chúng tôi ngủ trong tẩm thờ. Lớn lên một chút, tôi thấy thỉnh thoảng một số người bận đồ đen hay về trong đình thì thầm trò chuyện. Tìm hiểu ra, tôi biết đó là cô Tần, thầy Mười, anh Thôi, cậu An, chú Giản… Anh Thôi thường bảo tôi đi lượm dây cao su trong ống pháo sáng (đèn dù) về cho anh buộc chuôi lựu đạn chạy khỏi rớt. Một buổi tối tôi vừa đưa cho một chùm dây thì sáng hôm sau đã thấy anh bị địch phục bắn chết tại ngõ bà Thiềm trong làng. Thắt lưng anh còn giắt nguyên chùm dây cao su tối qua tôi cho anh tại đình”. Trong Tổng tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, đình làng cũng là nơi dân làng tập họp kéo về quận lỵ Điện Bàn đấu tranh giành chính quyền. Ông Lê Hữu Thịnh – nguyên là du kích kể: “Đây là nơi thường họp chi bộ. Trong Tết Mậu Thân dân làng An Quán, Đông Khương tập họp tại đây. Dưới sự lãnh đạo của chị Phạm Thị Tần, bà con đã kéo ra quận lỵ Điện Bàn phối hợp với các xã khác cùng nổi dậy để giành chính quyền. Một số người như đồng chí Trần Thứ và ông Lê Đức Cả đã bị địch bắn hy sinh trong trận này”.

Nghệ nhân nhân dân Nguyễn Văn Tiếp tâm sự: “Đối với tôi, ký ức về đình làng Đông Khương không phải chỉ toàn kỷ niệm đau thương thời chiến tranh đâu. Sau giải phóng tuy việc cúng tế tại đình ít dần nhưng bù lại các đoàn thể họp hành, sinh hoạt ca hát vang lừng. Nhiều thanh niên được kết nạp Đoàn tại đây. Đổi tiền cũng diễn ra tại đây. Tôi nhớ mãi lần làm lễ rước đuốc Bác Hồ về đình làng. Dân làng đông đủ cả, hồi đó chú Đính làm Bí thư chi bộ. Tôi đứng nghiêm, cảm giác nổi da gà khi ngọn đuốc bừng lên sáng rực cả ngôi đình”. Sau bao mưa nắng kể từ lần trùng tu cuối cùng vào năm 1961, mái đình đã hư hỏng nhiều, tuy nhiên đình làng Đông Khương vẫn giữ được kiến trúc gốc. Hệ thống cột, kèo, trính  tuy không được chạm trổ cầu kỳ, nhưng được liên kết khá chắc chắn, sít sao. Không gian đình thoáng đãng. Đặc biệt, ngôi đình này còn lưu giữ đầy đủ các hoành phi, liễng biển có từ xưa, được chạm trổ rất tinh tế, đẹp mắt. Có thể nói, đình làng Đông Khương là một trong số ít ngôi đình cổ ở các làng quê Quảng Nam còn sót lại, có giá trị lịch sử văn hóa quý giá, phản ánh một giai đoạn phát triển của làng xã Quảng Nam, ghi dấu tính cố kết cộng đồng – một nét đặc sắc của văn hóa làng.

Lễ an vị – lạc thành đình làng Đông Khương

Một đình làng quý giá như vậy lẽ nào để sụp đổ. Một buổi chiều cuối năm Đinh Dậu 2017, những người con làng Đông Khương làm mâm cơm cúng tiền nhân đã trầm ngâm nói với nhau như vậy. Và họ phát tâm nguyện tiên phong huy động con em của làng góp công, góp của trùng tu đình làng. Ông Đoàn Nhạn, thành viên Ban quản lý đình làng Đông Khương cho biết: “Sau Tết Mậu Tuất chúng tôi đã gửi thư ngỏ đến con em gần xa. Sau đó kêu gọi đóng góp kinh phí, biên lai có cùi để quản lý chặt chẽ. Tiền thu được hàng ngày cập nhật rất công khai minh bạch nên mọi người rất tin tưởng”. “Người làng Đông Khương hưởng ứng rất nhiệt tình. Nhiều người sống nơi xa, chúng tôi không biết họ nhưng qua mạng xã hội họ vẫn gửi tiền về ủng hộ. Như một chị là doanh nhân ở Bình Dương gửi 25 triệu, đăng ký sửa toàn bộ sân đình. Cô Sáu Xuyến ở Mỹ đọc được thông tin trên face book cũng gửi tiền về. Một cháu sống ở Sài Gòn nhắc chuyện từng được phát thưởng khuyến học tại đình, cảm kích ân nghĩa của làng nên lập tức hưởng ứng. Ở quê, nhiều người khó khăn thì đóng góp ngày công”, ông Tiếp cho biết thêm.

Công trình trùng tu khởi công từ tháng 5 năm 2018. Ban quản lý đình làng Đông Khương đã tiến hành thay toàn bộ mái ngói, hệ thống đòn tay, rui mè, cửa; nâng cấp bàn thờ và lót lại nền đình bằng gạch gốm, làm lại sân đình. Tổng kinh phí trùng tu là 252 triệu đồng. Đấy là chưa kể ngày công đóng góp của nhiều người. Dân làng Đông Khương rất vui mừng và tự hào về thành quả mà họ đã rất nỗ lực để hoàn thành. Ông Lê Đức Cường vui mừng nói: “Với thành tựu này có thể khẳng định rằng chúng tôi cùng lúc đã bảo tồn được hai di sản văn hóa. Di sản vật thể là đình làng; di sản phi vật thể là phục hồi lại lễ tế tiền hiền, hậu hiền tại đình như các anh đã chứng kiến”. “Chúng tôi sẽ làm tiếp một số hạng mục như xây tường rào, đổ đất mở rộng khuôn viên quanh đình. Đặc biệt, chúng tôi sẽ tổ chức lại phát thưởng khuyến học hằng năm cho tất cả các cháu học sinh, sinh viên trong làng mà mấy năm qua do đình hư hỏng nên bị gián đoạn” –  nghệ nhân Nguyễn Văn Tiếp khẳng định. Cũng cần nói thêm rằng Điện Phương là vùng đất có thế mạnh phát triển du lịch. Nơi đây có nhiều di tích lịch sử văn hóa như miếu thờ Đoàn Quý Phi; làng đúc đồng Phước Kiều; di tích dinh trấn Thanh Chiêm, nhà thờ giáo xứ Phước Kiều, khu du lịch sinh thái Triêm Tây cùng với các cơ sở chạm khắc gỗ mỹ nghệ Nguyễn Văn Tiếp; sản xuất gốm đất nung Lê Đức Hạ… Những điểm đến này lại nằm trên tuyến du lịch Hội An – Mỹ Sơn nên kết nối rất thuận tiện. Chính vì vậy, đình làng Đông Khương được trùng tu khang trang sẽ làm phong phú thêm bản đồ du lịch của Điện Phương.

Bắt đầu từ ý tưởng của một nhóm người tâm huyết, dân làng Đông Khương xã Điện Phương, thị xã Điện Bàn đã trùng tu thành công ngôi đình cổ trên trăm năm tuổi. Việc người dân Đông Khương tự đứng ra tổ chức trùng tu thành công đình làng thật đáng trân trọng trong bối cảnh nhiều nơi vẫn trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước. Hơn nữa thành tựu của người Đông Khương có thể gợi mở cho nhiều nơi về giải pháp xã hội hóa công tác bảo tồn di tích do cộng đồng quản lý hiện nay.

                                                                                        D.H