Hội thảo Bảo tồn và phát huy giá trị Di sản văn hóa Quảng Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển

“Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa Quảng Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển” là chủ đề của Hội thảo khoa học được Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam tổ chức vào ngày 20.9. Có 93 tham luận của các nhà khoa học, nghiên cứu lịch sử, văn hóa, văn học

Quang cảnh hội thảo

uy tín đến từ các vụ, viện, cục di sản, các trường đại học trong cả nước. Chủ trì hội thảo có GS-TS Trương Quốc Bình, Ủy viên Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia, PGS-TS Bùi Thị Phương Châm – Viện Trưởng Viện nghiên cứu văn hóa, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch – Nguyễn Thanh Hồng. Đây cũng là một hoạt động nằm trong chuỗi các sự kiện kỷ niệm 20 năm Khu đền tháp Mỹ Sơn và Đô thị cổ được UNESCO công nhận Di sản văn hóa thế giới, 10 năm Cù Lao Chàm Hội An được công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới.

Phát biểu khai mạc hội thảo, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam – Nguyễn Thanh Hồng khẳng định: Quảng Nam là địa phương có khối lượng di sản văn hóa phong phú, đa dạng bật nhất với 4 di tích quốc gia đặc biệt, trong đó có 2 di sản văn hóa thế giới, 1 khu dự trữ sinh quyển thế giới, 62 di tích quốc gia và 340 di tích cấp tỉnh. Ngoài ra, Quảng Nam còn là địa phương có nhiều danh lam thắng cảnh, các làng nghề truyền thống được bảo tồn tốt, nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đã và đang được phát huy trong thời kỳ hội nhập và phát triển.

Tại hội thảo, nhiều vấn đề đặt ra về đặc trưng văn hóa xứ Quảng được các nhà khoa học nhìn nhận nhằm làm sáng tỏ hơn mối liên hệ của di sản văn hóa Quảng Nam từ trong quá khứ đến thời điểm hiện tại; giá trị tài nguyên của các di sản khảo cổ học từ tiền Sa Huỳnh đến văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Champa…Sự giao hòa giữa các nền văn hóa của người Chăm, người Việt, người Hoa, người Nhật và người châu Âu – một trong những đặc trưng cơ bản của văn hóa xứ Quảng; gia tài đặc sắc văn hóa đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Tây của tỉnh. Vấn đề đặt ra là tiếp tục làm thế nào để phát huy giá trị của các di sản văn hóa, các làng nghề truyền thống để phát triển du lịch. Phát biểu đề dẫn hội thảo GS – TS Trương Quốc Bình, Ủy viên Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia nhấn mạnh vai trò quan trọng của văn hóa xứ Quảng: “Dưới góc nhìn địa – văn hóa; xứ Quảng là một tiểu vùng trong bối cảnh vùng văn hóa Nam Trung bộ – vùng đất rộng lớn từ Nam đèo Hải Vân đến địa bàn giáp ranh Nam Bộ. Tiểu vùng văn hóa này có sự hiện diện, giao hòa của hầu hết các loại hình di sản văn hóa, thể hiện những đặc trưng văn hóa khác nhau, có những niên đại khác nhau, hàm chứa những nội dung lịch sử khác nhau nhưng đều gắn liền với những đặc điểm về địa lý tự nhiên và quá trình hình thành phát triển của mảnh đất này. Sự đa dạng của tiểu vùng văn hóa này được thể hiện rõ ở sự giao lưu, gắn kết văn hóa từ quá trình tụ cư, hỗn cư và hợp cư của người Chăm, người Việt, người Hoa, giữa cư dân khối đồng bằng ven biển với đồng bào các dân tộc hiểu số vùng cao, cùng những ảnh hưởng không nhỏ của sự giao lưu văn hóa Đông – Tây”. Và Quảng Nam cũng có vai trò đặc biệt quan trọng trong lịch sử dân tộc, với công cuộc tiến về phương Nam của người Việt. Nhìn lại lịch sử hình thành xứ Quảng Nam thì quá trình ảnh hưởng, giao lưu văn hóa Đông – Tây là rất lớn và làm nên một trong những đặc thù của tiểu vùng văn hóa này. Theo TS. Vũ Ngọc Hoàng, từ thế kỷ XVII, Quảng Nam là trung tâm kinh tế lớn nhất của Đàng Trong. Ngày đó chưa có Sài Gòn như sau này. Trung tâm kinh tế ở xứ Quảng có vai trò rất lớn trong việc chuẩn bị hậu cần cho cuộc đấu tranh Trịnh – Nguyễn, xây dựng cơ đồ cho các chúa Nguyễn về sau, đặc biệt là đáp ứng hậu cần cho công cuộc khai khẩn vĩ đại về phương Nam cho đến tận Hà Tiên để mở rộng gấp đôi nước Việt. Với vai trò là trung tâm kinh tế lớn của Đàng Trong và cũng được các nhà nghiên cứu đánh giá là đặc khu kinh tế đầu tiên ở miền Nam Việt Nam, thông qua Hội An – thương cảng quốc tế sầm uất bật nhất Đông Nam Á . Cũng chính vì vậy, Đô thị cổ Hội An  được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới với hai tiêu chí: Hội An là biểu hiện vật thể nổi bật của sự kết hợp các nền văn hóa qua các thời kỳ trong một thương cảng quốc tế; Hội An là điển hình tiêu biểu về một cảng thị châu Á truyền thống được bảo tồn nguyên vẹn.

Ông Nguyễn Đức Tuấn – nguyên Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin Quảng Nam nhìn nhận: với lợi thế của mình, Quảng Nam ngày càng đầu tư về văn hóa mà đầu tư cho văn hóa là đầu tư chiều sâu để phát triển kinh tế – xã hội trong tương lai. Và Quảng Nam cần có nhiều giải pháp để bảo tồn di sản, di tích trước áp lực du khách quá đông như hiện nay. PGS – TS Nguyễn Văn Mạnh – Trường Đại học Khoa học Huế quan ngại trước xu thế đứt gãy về văn hóa truyền thống ở đồng bào các dân tộc thiểu số. Mặt trái của phát triển là văn hóa bị biến dạng, băng hoại. Vì vậy, chúng ta cần tìm cách để bảo tồn kể cả ngôn ngữ, chữ viết, tính cách các tộc người thiểu số… bảo tồn văn hóa tộc người trong bức tranh chung của văn hóa dân tộc. Đồng tình với quan điểm này, GS-TS Bùi Quang Thanh – Viện Văn hóa – Nghệ thuật quốc gia Việt Nam cho rằng: Chúng ta cần quan tâm đến việc tổng kiểm kê di sản vật thể trên địa bàn toàn tỉnh để có cơ chế bảo tồn khẩn cấp và lâu dài. Xây dựng đề án bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, đồng thời có những dự án cụ thể để đáp ứng những tiêu chí đặt ra song hành giữa bảo tồn và phát triển giá trị văn hóa các tộc người trên tuyến đường Hồ Chí Minh nói riêng và các tộc người vùng Tây Nguyên nói chung. Không gian văn hóa Quảng Nam nhiều nhiều ưu thế nổi trội với những tiềm năng văn hóa đặc sắc. Đó là vùng đất với nhiều di sản thế giới, nhiều làng nghề truyền thống còn được bảo lưu phát huy tốt qua hàng trăm năm, hàng năm thu hút hàng triệu lượt khách du lịch trong và nước ngoài. Vùng đất hội tụ đủ điều kiện địa lý của cả miền núi, trung du, đồng bằng và miền biển để làm nên các trầm tích văn hóa.

Các nhà khoa học phát biểu tại hội thảo

Kết luận tại hội thảo GS-TS Trương Quốc Bình đúc kết: Những giá trị đặc sắc của văn hóa Quảng Nam góp phần không nhỏ trong việc hình thành tính cách, phẩm giá chung của người dân xứ Quảng. Với kho tàng di sản văn hóa phong phú và độc đáo đồng thời cũng là tài nguyên du lịch hấp dẫn tạo nên lợi thế và tiềm năng to lớn cho du lịch xứ Quảng. Thực tiễn chứng minh rằng là một trung tâm du lịch lớn của Việt Nam, du lịch Quảng Nam có sự phát triển mạnh mẽ đóng vai trò cốt lõi trong cơ cấu kinh tế chung của vùng. Để có được thành tựu to lớn này, Quảng Nam đã tận dụng được những lợi thế về văn hóa và khai thác kho tàng về tài nguyên du lịch. Bên cạnh những thành quả đạt được, các đại biểu tham dự hội thảo cũng thẳng thắn nhìn nhận những tồn tại hạn chế, những hệ lụy của sự thiếu kiểm soát về môi trường du lịch. Đồng thời cũng đặt ra những việc cần làm nhằm tăng cường bảo vệ những di sản văn hóa đặc trưng của các tộc người ở miền núi phía Tây của tỉnh. Bên cạnh đó là đẩy mạnh công tác khai quật khảo cổ học nhằm khôi phục những giá trị chân xác của nền văn hóa khảo cổ thời tiền sử đến các thời kỳ sau mà đặc biệt lưu ý đến các lưu vực dòng sông Thu Bồn, Trường Giang. Cần xây dựng, triển khai các đề án nghiên cứu về mối liên hệ đặc biệt giữa núi thiêng Ngọc Linh, thung lũng thiêng Mỹ Sơn, đảo thiêng Cù Lao Chàm mà gạch mối là dòng sông thiêng Thu Bồn…

Tại hội thảo, các nhà khoa học cũng đưa ra những góc nhìn mới mẻ về những đặc trưng của văn hóa xứ Quảng. Vấn đề là làm thế nào để bảo tồn và phát huy kho tàng di sản văn hóa ấy. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiếp thu ý kiến của các nhà khoa học và sẽ có những giải pháp cụ thể để bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa trong thời kỳ hội nhập và phát triển. Hội thảo khoa học lần này là tiền đề cho những nghiên cứu sau này về văn hóa Quảng Nam, gợi mở, định hướng phát triển văn hóa theo hướng bền vững.

                                                                                       M.A