Gia tộc và công tác xây dựng “Tộc văn hóa”

Theo nhà giáo, tiến sĩ Huỳnh Công Bá (giảng viên khoa Lịch sử, Đại học Sư phạm Huế): Gia tộc là một thứ kết cấu duy nhất mang tính huyết thống còn sót lại của thời nguyên thủy, và đó là thứ kết cấu hết sức bền vững. Với quan niệm “một giọt máu đào hơn ao nước lã”, những người trong tộc họ gắn bó với nhau bằng nghĩa gia tộc, thường cưu mang, đùm bọc, giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn; chia sẻ những nỗi buồn vui (hiếu, hỷ, đỗ đạt, thăng giáng…). Một đặc điểm dễ thấy ở các gia tộc là sự thành bại của một người luôn gắn liền với danh dự và uy tín của cả gia tộc: khi một người thành đạt, gia tộc vinh hãnh: “Một người làm quan cả họ được nhờ”; thậm chí cả những người đã khuất cũng được hưởng (lệ truy phong). Ngược lại, một người phạm tội, không chỉ cả nhà mà cả họ cũng bị vạ lây (tru di tam tộc), như trường hợp của danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi hay nhà thơ nổi tiếng Cao Bá Quát … Đã thành “luật”, các thành viên trong gia tộc có nghĩa vụ đóng góp công, của để xây dựng từ đường, sắm sửa lễ vật tế tự … và phải chấp hành những quyết nghị của tập thể (gia tộc) và những lời dạy bảo của tộc trưởng. Tộc trưởng là một nhân vật có vai trò và thế lực cao nhất trong gia tộc.  Có nhiệm vụ thờ phụng tổ tiên ở nhà thờ tộc họ; có quyền dự tất cả hội nghị gia tộc ở các chi họ; có quyền phán xử những vụ việc tranh chấp trong tộc họ, định đoạt hoặc khuyên bảo khi họ hàng có việc tang, hôn … và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của tất cả những người trong tộc họ mình.

Quang cảnh tọa đàm về công tác xây dựng “Tộc Văn hóa” ở huyện Đại Lộc

Trải qua các thời đại phong kiến, gia tộc luôn khẳng định vị thế của mình trong đời sống chính trị – xã hội ở nông thôn nước ta. Sau làng xã, phải nói đến tộc họ. Và, không hề quá đáng khi khẳng định: Văn hóa dân tộc ta chính là văn hóa làng xã cộng với văn hóa dòng họ, trong đó văn hóa dòng họ là cơ sở, là hạ tầng. Bởi, gia tộc là nơi hội tụ của tinh thần nhân ái, tính cộng đồng và sự kỷ cương, nền nếp… Đến thời Pháp thuộc, khi nền văn hóa Việt Nam phải chấp nhận một cuộc tiếp xúc cưỡng bức với nền văn hóa thực dân phương Tây, chủ nghĩa cá nhân dần dần tiêm nhiễm vào tầng lớp thị dân và tân học khiến cho gia tộc giảm sút dần vai trò, vị trí, và nghĩa gia tộc theo đó cũng giảm dần sự ràng buộc đối với mỗi cá nhân. Ngày nay, gia tộc vẫn có một vai trò, một tiếng nói quan trọng trong việc xây dựng đời sống văn hóa.

Gia tộc có quan hệ mật thiết với việc xây dựng con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước theo tinh thần Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09.6.2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI. Chúng ta biết rằng, bất kỳ ai dù ở đâu, làm gì đều mang theo họ của mình suốt đời và ít nhiều đều có sợi dây ràng buộc hết sức thiêng liêng với họ hàng. Hiện nay, xu hướng ngày càng có nhiều người (ở trong nước và kiều bào ta ở nước ngoài) tìm về nguồn cội, gốc gác tổ tiên, ông bà là một thực tế sinh động, không thể bỏ qua. Mặt khác, hình thức giáo dục lễ trị (tức dùng lễ để giáo huấn, hoà giải, cảm hóa) của các gia tộc vẫn có những tác dụng tích cực đến việc giáo dục con người, và giảm bớt sự can thiệp của chính quyền và pháp luật trong những trường hợp chưa thật cần thiết.

Gia tộc là một thực thể có những đóng góp tích cực vào việc xây dựng đời sống văn hóa và môi trường văn hóa ở cơ sở. Mặc dù quy mô, hoạt động có khác nhau nhưng tựu trung lại tộc họ vẫn là nơi tập hợp các con cháu trong gia tộc để cùng nhau thực hiện tốt những nội dung trong quy ước về truyền thống gia tộc, về phẩm chất, đạo đức, phát huy đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”,“Cây có cội, nước có nguồn”,“Chim có tổ, người có tông”… qua đó xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh trong cộng đồng; phát huy những thuần phong mỹ tục, bài trừ những tập tục lạc hậu, góp phần xây dựng nên những giá trị đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam. Đồng thời, tộc họ là một nhân tố góp phần khôi phục, chọn lọc và phát triển những giá trị văn hóa độc đáo của từng địa phương. Từ lịch sử của các gia tộc (thể hiện qua gia phả) nếu biết gắn kết lại có thể hiểu sâu sắc về lịch sử của một làng, một vùng đất. Những năm qua, có một thực tế không thể phủ nhận, chính gia tộc là đối tượng quan trọng và chủ yếu để thực hiện nếp sống văn minh, lành mạnh, tiết kiệm trong việc cưới, việc tang, lễ hội theo tinh thần Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 12.01.1998 của Bộ Chính trị khóa VIII, Quyết định số 308/2005/QĐ-TTg ngày 25.11.2005 và Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 09.02.2018 của Thủ tướng Chính phủ.

Gia tộc thúc đẩy thực hiện tốt nhiều chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước như chăm sóc người cao tuổi, đỡ đầu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, xây dựng “xã hội học tập”, dân số – kế hoạch hóa gia đình… Đáng chú ý là những năm gần đây, phong trào khuyến học, khuyến tài do các tộc họ phát động đã thực sự tạo ra những chuyển biến mới ở nông thôn hướng tới mục tiêu: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Ở huyện Đại Lộc, bằng nhiều hình thức huy động, từ năm 2015 đến nay, các tộc đã huy động quỹ khuyến học trên 2 tỷ đồng, kịp thời hỗ trợ phát thưởng cho gần 1.000 học sinh, sinh viên vượt khó, học giỏi.

Từ vị trí quan trọng của gia tộc, chúng tôi cho rằng, trong công tác xây dựng “Tộc văn hóa” (với 6 tiêu chí được quy định tại Quy chế công nhận danh hiệu “Tộc văn hóa” trên địa bàn tỉnh Quảng Nam ban hành kèm theo Quyết định số 1637/QĐ-UBND ngày 08.05.2015 của UBND tỉnh) thời gian đến cần chú ý một số vấn đề, đó là tiếp tục phát huy đầy đủ vai trò của Hội đồng gia tộc ở từng tộc họ, địa bàn dân cư. Đây là tổ chức hoạt động theo nguyên tắc: tự nguyện, tự giác, tự quản. Ở từng tộc họ, thành viên Hội đồng gia tộc bao gồm đại biểu của các chi, phái và những vị có uy tín trong gia tộc. Ở từng khu dân cư (thôn, khu phố), Hội đồng chư tộc phái quy tụ đại biểu của các tộc họ. Thực tiễn ở huyện Đại Lộc cho thấy rằng, từ năm 1991, với sự ra đời và đi vào hoạt động của tổ chức Hội đồng gia tộc, sinh hoạt của các gia tộc đã cơ bản đi đúng quỹ đạo “Tốt tộc, đẹp đời”, góp phần gìn giữ thuần phong mỹ tục, phát huy tinh thần đoàn kết trong nội bộ gia tộc và giữa các gia tộc trên từng khu dân cư; động viên các gia đình tham gia thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội hằng năm và chủ trương xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.

Tập trung chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra các tộc họ trong việc xây dựng Tộc ước. Đây là “luật” của tộc nhưng phải xây dựng làm sao vừa đảm bảo phù hợp với pháp luật hiện hành, vừa giữ gìn nét thuần phong mỹ tục, những giá trị văn hóa đặc sắc của tộc họ được kết tinh từ bao đời nay, nhất là sự đùm bọc, cưu mang giữa những người có cùng huyết thống, tổ tiên trên tinh thần “một người khó cả tộc họ cùng chăm lo”. Mặt khác, Tộc ước cần xác định mối quan hệ giữa gia tộc với bên ngoài, hết sức tránh các biểu hiện cục bộ, bản vị, coi tộc họ đứng trên tất cả hoặc đứng ngoài thời cuộc. Một Tộc ước có nội dung đảm bảo sẽ là cơ sở quan trọng để xây dựng “Tộc văn hóa” có chất lượng cao.

Tăng cường tính tự quản của tộc họ trong việc quản lý, giáo dục con cháu sống hiếu thảo, nhân nghĩa, tôn trọng pháp luật, giữ gìn nền nếp gia phong, tôn trọng người cao tuổi, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, xây dựng nếp sống văn minh. Mặt khác, phát hiện và chấn chỉnh ngay các biểu hiện, quan niệm lạc hậu, sai lầm: “tộc to, tộc nhỏ”, “con đàn, cháu đống”, “trọng nam, khinh nữ” … vẫn còn rơi rớt ở một số tộc họ. Một khi chú trọng đúng mức đến những vấn đề nêu trên chắc chắn công tác xây dựng “Tộc văn hóa” sẽ ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất hơn, bền vững hơn.

Cần gắn xây dựng “Tộc văn hóa” với xây dựng “Gia đình văn hóa”, “Thôn, khu phố văn hóa”, “Xã văn hóa nông thôn mới”, “Thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị” và đặc biệt là với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” do Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động. Qua đối chiếu cho thấy: 6 tiêu chí công nhận “Tộc văn hóa” có nhiều điểm tương đồng với 5 nội dung của cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” như: nêu cao tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau; phát triển kinh tế, tích cực giúp nhau giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần; xây dựng đời sống văn hóa, chăm lo sự nghiệp giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, phát huy truyền thống đền ơn, đáp nghĩa, tương thân, tương ái; tham gia bảo vệ môi trường; phát huy dân chủ, chấp hành pháp luật, bảo đảm trật tự an toàn xã hội… Do vậy, có thể khẳng định nếu thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng “Tộc văn hóa” sẽ có tác dụng thúc đẩy cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” đi vào chiều sâu và ngược lại.

V.T