Cần bảo tồn, phát huy văn hóa đặc trưng của các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh

Kỳ họp HĐND tỉnh tháng 12/2018 dự kiến thông qua các Nghị quyết chuyên đề nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, trong đó có nội dung đề án“Hỗ trợ bảo tồn, phát huy văn hóa đặc trưng các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2018 – 2025”do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh chủ trì soạn thảo.

Múa tân tung, da dá của người Cơ Tu ở phố cổ Hội An.

Từ thực trạng công tác bảo tồn…

Trong những năm qua, công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh được các cấp, các ngành, các địa phương quan tâm. Toàn tỉnh hiện có khoảng 130.000 đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm tỷ lệ 8,93% dân số toàn tỉnh, gồm bốn thành phần tộc người là Cơ Tu, Xơ Đăng, Giẻ – Triêng và Cor. Mỗi dân tộc có những đặc trưng văn hóa riêng; đồng thời quá trình cộng cư, giao thoa văn hóa giữa các dân tộc anh em đã góp phần tạo nên một diện mạo văn hóa vừa phong phú, vừa đa dạng của đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh. Hiện có bốn di sản văn hóa phi vật thể của đồng bào các dân tộc thiểu số được lập hồ sơ và đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia gồm: múa tân tung, da dá, nghề dệt thổ cẩm, nói lý – hát lý của dân tộc Cơ Tu; trang trí cây Nêu và bộ Gu của dân tộc Cor. Công tác sưu tầm, biên soạn nhằm bảo tồn ngôn ngữ, chữ viết của đồng bào các dân tộc thiểu số được triển khai thực hiện và hoàn thành biên soạn Bộ chữ viết dân tộc Bh’noong; Ngữ vựng Việt – Ca Dong, Ca Dong – Việt; Ngữ pháp tiếng Ca Dong; sách dạy và học tiếng Ca Dong; bộ Tiếng thông dụng Cơ Tu – Kinh và văn hóa làng Cơ Tu; Từ điển Cơ Tu – Việt, Việt – Cơ Tu. Việc bảo tồn các loại hình âm nhạc truyền thống như các loại nhạc cụ; các làn điệu dân ca, dân vũ của đồng bào các dân tộc được gìn giữ và thực hành tại cộng đồng; các già làng, nghệ nhân tại nhiều thôn, xã thực hành và truyền dạy. Tại nhiều thôn, các đội cồng/ trống chiêng thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ trong các dịp lễ, Tết, ngày hội truyền thống. Việc khôi phục các nghề dệt thổ cẩm, đan lát gắn với phát triển du lịch cộng đồng; quy định mặc trang phục truyền thống của dân tộc trong các dịp lễ, Tết, các kỳ họp quan trọng, ngày chào cờ đầu tuần ở trường học…. đối với cán bộ, giáo viên, học sinh người dân tộc thiểu số.

Bên cạnh những kết quả đó, công tác bảo tồn giá trị văn hóa đặc trưng của các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh vẫn còn có những khó khăn nhất định. Một số loại hình văn hóa truyền thống đang có nguy cơ mai một: trang phục truyền thống thường chỉ được sử dụng trong các ngày lễ hội; các bộ cồng/ trống – chiêng của nhân dân đang dần bị hư hỏng do thời gian, các điệu múa cồng/ trống – chiêng chủ yếu tập trung vào những người lớn tuổi; các loại hình dân ca, dân vũ ít được sử dụng, lưu truyền và phổ biến, đặc biệt trong lớp trẻ; việc truyền dạy di sản trong cộng đồng chưa được quan tâm đúng mức; nhiều phong tục tập quán tốt đẹp liên quan giữa con người với thiên nhiên nhằm hạn chế sự tác động tiêu cực của con người đối với môi trường sinh thái đã bị phai nhạt; một số hủ tục đang có nguy cơ quay trở lại. Điều này đã và đang đặt ra những khó khăn, thử thách đòi hỏi những người có trách nhiệm phải tham mưu cho tỉnh một cơ chế, chính sách phù hợp.

… Đến việc xây dựng cơ chế, chính sách

Theo dự thảo đề án, các nội dung nằm trong mục tiêu hỗ trợ, bảo tồn sẽ được chia làm hai giai đoạn hỗ trợ, giai đoạn 1 từ 2019 – 2020, giai đoạn 2 từ 2021 – 2025 với việc hỗ trợ xây dựng nhà làng truyền thống các dân tộc, hỗ trợ cồng/ trống – chiêng, hỗ trợ truyền dạy kỹ năng thực hành các di sản văn hóa phi vật thể, hỗ trợ kinh phí cho các CLB, đội nhóm nghệ thuật truyền thống đến việc đưa di sản văn hóa các dân tộc thiểu số vào giảng dạy tại các trường phổ thông dân tộc bán trú, nội trú của tỉnh và các huyện… Tổng kinh phí dự kiến gần 107 tỷ đồng từ ngân sách và  chi cân đối từ nguồn ngân sách địa phương.

Nghệ nhân Cơ Tu, huyện Tây Giang biểu diễn nói lý, hát lý.

Để thực hiện các nội dung này, dự thảo đề án đã nêu ra một số giải pháp, từ việc thành lập Ban Chỉ đạo triển khai đề án, huy động  nguồn vốn, đến việc tuyên truyền, quảng bá việc bảo tồn, phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số; có cơ chế, chính sách hỗ trợ các nghệ nhân, già làng trong việc truyền dạy di sản văn hóa; đào tạo nguồn nhân lực về văn hóa dân tộc thiểu số vững vàng về tư tưởng chính trị và chuyên môn nghiệp vụ; ưu tiên việc đào tạo đội ngũ cán bộ thuộc các dân tộc thiểu số; tập huấn, bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ làm công tác văn hóa cơ sở ở miền núi.

Liệu những chủ trương hỗ trợ của Nhà nước có đảm bảo để đồng bào miền núi bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa đặc trưng chưa? Câu hỏi này vẫn chưa có lời giải, bởi việc xây dựng đề án này là một việc rất khó, rất rộng với nhiều nội dung, nhiều lần lấy ý kiến nhưng chưa đi đến thống nhất. Ông Nguyễn Thanh Hồng – Giám đốc Sở VH,TT&DL cho biết: “Đây là một đề án rất khó, sau nhiều lần điều chỉnh vẫn chưa thống nhất. Hiện nay có 9 huyện miền núi, nhưng đề án tập trung vào 7 huyện có đông đồng bào sinh sống gồm Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Nam Trà My, Bắc Trà My và Hiệp Đức”.

Đồng tình với chủ trương của tỉnh trong việc cần thiết phải ban hành đề án, ông Đặng Phong – Giám đốc Sở Kế hoạch – Đầu tư tỉnh cho rằng: “Việc tỉnh Quảng Nam xây dựng cơ chế để hỗ trợ việc bảo tồn và phát huy giá trị đặc trưng của văn hóa là cần thiết, các ngành chức năng không cầu toàn, đề án phải triển khai thực hiện một cách nhanh nhất, vừa làm vừa rút kinh nghiệm”. Ông Nguyễn Bằng – nguyên Bí thư Huyện ủy Đông Giang cho rằng: trong tất cả các đề án, đề án này thật sự rất khó, bởi việc bảo tồn văn hóa phải tham vấn ý kiến cộng đồng, không nhất thiết phải hỗ trợ dàn trải từng nội dung mà nên giao trách nhiệm cho lãnh đạo các địa phương đề xuất nội dung bảo tồn, tỉnh hỗ trợ về cơ chế để các địa phương thực hiện. Nếu làm được điều này thì đề án sẽ nhận được sự đồng tình hưởng ứng cao của nhân dân. Người dân sẽ tham gia và là chủ thể chính trong việc bảo tồn giá trị đặc trưng của dân tộc mình.

Dự thảo đề án này được Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh chọn phản biện, hy vọng rằng từ các diễn đàn tham vấn ý kiến già làng, trưởng bản tiêu biểu và ý kiến tham gia dự thảo của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu văn hóa, dân tộc sẽ được Sở VH,TT&DL tỉnh tiếp thu với tinh thần cầu thị để tiếp tục hoàn thiện dự thảo trình tại kỳ họp HĐND tỉnh sắp đến.

                                                         L.N.T