Truyện ngắn Hoàng Nhật Tuyên

Hoàng Nhật Tuyên thuộc thế hệ nhà văn trưởng thành sau năm 1975. Anh đến với văn chương từ cuối những năm tám mươi của thế kỷ trước, bằng 4 truyện dài và 2 tiểu thuyết, bỗng nhiên gần đây anh chuyển hẳn sang viết truyện ngắn, và liên tục cho ra đời 5 tập truyện ngắn, mà gần đây nhất là tập Người ấy và tôi (NXB Đà Nẵng, 2018) – tập sách thể hiện rõ nhất phong cách truyện ngắn của Hoàng Nhật Tuyên.

Hai lăm truyện ngắn như 25 bức tranh liên hoàn đặt cạnh nhau, phác thảo về các vùng đất theo không gian địa lý kéo dài từ Nam Trung bộ và Tây Nguyên vào đến tận miền Tây Nam bộ, làm nên không gian nghệ thuật chuyển động trên một trục ngang hai điểm là nông thônthành thị, vào những thời điểm lịch sử khác nhau, nhưng cũng chỉ giao động trên một trục dọc là chiến tranhsau chiến tranh – người dẫn truyện luôn ở thì hiện tại, nhưng vẫn luôn vọng về một ký ức đau thương và gian khổ trong cuộc chiến đã qua, mà di chứng của nó dường như vẫn còn hiện hữu, thậm chí, trong một truyện ngắn nhất trong tập là Khi mùa sen nở, chỉ chưa đầy 4 trang sách, thực chất chỉ là những trang ký sự miêu tả một bàu sen nhỏ ở làng quê, đến kết thúc truyện mới hiện ra nhân vật là con người của một thời lửa đạn: “Hồi chiến tranh, cô Hường là du kích xã. Một lần, đội du kích trong đó có người yêu của cô Hường đi qua bàu sen này thì bị Mỹ đánh bom. Người yêu của cô Hường hy sinh, còn cô Hường bom ép, chết đi sống lại. Khi đất nước hòa bình, mọi người trong làng cố giúp đỡ, chạy chữa, nhưng vì chấn thương nặng quá nên tính tình cô ấy không được bình thường. Vào những mùa sen, khi trăng lên cô Hường hay chèo thuyền ra giữa bàu rồi một mình hò…”[tr.198]. Cố nhiên, là người sinh ra và lớn lên ở miền quê Đại Lộc trong những năm chiến tranh, nên ký ức về một vùng nông thôn nghèo miền Trung trong chiến tranh trong quá khứ, chủ yếu vẫn là xứ Quảng, còn hiện tại của một thành thị sau khi đất nước thống nhất, chủ yếu vẫn là thành phố biển Nha Trang, nơi anh định cư, sinh sống và làm việc cho đến lúc nghỉ hưu.

Truyện ngắn của Hoàng Nhật Tuyên có bố cục gọn, sự kiện giản đơn, không có những tình tiết ly kỳ, lắc léo, chỉ “là một lát cắt hiện thực đời sống” (Tô Hoài) theo đúng nghĩa của từ này. Thế giới nhân vật cũng chỉ là những con người bình thường, thậm chí là những con người bé mọn, nhỏ bé quanh ta trong cuộc sống đời thường mà ta có thể bắt gặp bất cứ lúc nào. Chuyện về những đứa bé mồ côi, nhà nghèo, sống bằng nghề ve chai đồng nát vẫn giữ được những phẩm hạnh thiên lương của con người (Điều không dễ quên, Hoa quyên di trên núi). Chuyện về hai người bạn gái cùng tên, học cùng lớp ngang tài, ngang sắc, nhờ sự ganh đua mà cùng trở nên những con người xuất sắc, những va vấp trong cuộc đời khó làm họ gục ngã (Người ấy và tôi). Là chuyện tình tay ba đầy tính nhân văn một thời chiến tranh của thím Luyến, chú Sáu Di và cô Bảy Mượt (Thím tôi), là chuyện tình không dám tỏ của Khánh và Hạnh (Sông sớm), chuyện tình của Hằng và Cường trong Khúc vĩ thanh của chiến tranh, hoặc chuyện cô Sáu Chi, ông Thuấn trong Nốt nhạc khói màu lam, chuyện cô bé Dung và Dân trong Giếng xưa… Mỗi sự kiện có khả năng tạo dựng thành một cốt truyện và thấp thoáng trong đó là những nhân vật sống động. Một bà mẹ quê nghèo khó, có cả chồng và con đều hy sinh trong chiến tranh, hằng ngày mẹ sống dường như không chỉ bằng cơm ăn nước uống, không khí để thở, mà còn chủ yếu bằng ký ức thẳm sâu:“Mỗi lần mẹ lại kể thêm một số chi tiết về cuộc đời anh. Tôi với anh cùng chung một đơn vị chủ lực của tỉnh. Ngày quen nhau, chúng tôi chưa tròn hai mươi tuổi (…). Ngày hòa bình, chúng tôi đã đưa anh về nghĩa trang quê nhà và may mắn tôi sống chung trong một thị trấn cùng mẹ anh. Kỷ vật của anh tôi mang về cho mẹ là chiếc võng ni lông đã ố màu. Chồng hy sinh. Đứa con duy nhất của mẹ là anh cũng không còn nên mẹ sống chung với gia đình đứa cháu gọi dì. Mỗi lần tôi đến thăm là một lần mẹ kể về anh. Những câu chuyện mẹ kể về anh cứ đầy dần qua những lần tôi đến thăm” (Mẹ, tr.186-187). Mỗi nhân vật bước ra từ trang sách của nhà văn đều sống động, lừng lững như ta đã từng gặp trong đời, quen thuộc lắm nhưng lấp lánh bao điều mới mẻ, không hề có sự lặp lại, lấp lánh một thứ ánh sáng chân phương và ấm áp tình người. Vì vậy, có thể nói rằng, thành công lớn nhất của truyện ngắn Hoàng Nhật Tuyên chính là sức sống của hệ thống các nhân vật lâu bền trong tâm tưởng người đọc… Cũng như nhiều nhà văn thuộc thế hệ thời hậu chiến, chỉ chứng kiến chiến tranh chứ chưa từng tham chiến, nhân vật thành công của Hoàng Nhật Tuyên hầu hết đều là những người tốt, những nạn nhân của chiến tranh, bởi nỗi ám ảnh về chiến tranh trong anh là những ý niệm; anh ít thành công khi miêu tả những nhân vật xấu, kiểu như Hoan trong Chuông gió, các đứa con ông Thục là Hùng, Phong, Hiền trong Hoa quyên di trên núi, hoặc gã Giám đốc nhân sự trong Người ấy và tôi…

Là thế hệ nhà văn được đào tạo tử tế, từng tốt nghiệp ngành Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Huế (nay là Đại học Khoa học), nên Hoàng Nhật Tuyên có hệ thống “ngữ pháp” chuẩn mực của riêng mình, một giọng điệu văn chương trong sáng, giàu sắc thái biểu cảm lại đậm đặc chất liệu, hồn cốt của địa phương miền Trung, thấm đẫm ngay từ cách đặt tên cho nhân vật như Bảy Mượt (Thím tôi), bà Ba bán chè (Đường về), Tư Huỳnh, Sáu Kiệt (Con gà què), Mười Móc, Bốn Lạch (Ông Mười Móc)… hoặc địa danh làng quê, cây cỏ như xóm Đình, bàu Sen, cây duối… Giọng điệu văn chương của anh thể hiện ở cả ba phương thức: trần thuật, miêu tả và nhân vật, trong đó thể hiện sự chân chất của chính hình tượng tác giả, giọng điệu văn chương của chính con người nhà văn: “Chỉ cần nhìn cái dáng nó củ chỉ cù chì, cặm cà cặm cụi, lúc khom, lúc đứng bên bức tranh là tôi biết nó yêu Hằng đến mức nào. Vậy mà từ trước, tôi nghĩ nó chỉ là thằng lù đù, sợ gái, chỉ biết có sách và sách. Giờ thì khác rồi, giờ thì nó – thằng Luật, thằng con trai học chung lớp, ở trọ cùng phòng, bị tôi trêu chọc là “gã tu sĩ trẻ tuổi” đã biết yêu rồi” (Hồn quê, tr.212). Tất nhiên, không phải tất cả mọi điều trong thế giới nghệ thật truyện ngắn của anh đều hoàn hảo, vẫn còn nhiều truyện quá giản đơn về  kết cấu, đôi khi chỉ dừng lại ở mức một ghi chép có tính chất tân văn (Phụ hí, Khi mùa sen nở), hoặc là những mẩu chuyện chứ chưa thành truyện (Hắc đại bàng, Đường về)…

Thuộc thế hệ những người cầm bút trưởng thành sau ngày thống nhất đất nước, bên cạnh những tên tuổi thời danh như Trần Thùy Mai, Nguyễn Quang Lập, Văn Công Hùng … thì Hoàng Nhật Tuyên có phần khiêm tốn lặng lẽ hơn, nhưng anh có phẩm chất thẩm mỹ làm nên thế giới nghệ thuật của riêng mình, đó là hồn cốt của làng quê văn hiến, hong khô trong rơm rạ, bờ tre, sông bãi quê nhà. Chẳng thế mà, khi đọc tập bút ký Ăn tô mỳ Quảng nhớ chuyện bao đồng (2015) của anh, khiến ta gợi nhớ đến một dòng chảy văn chương sau 1975, với các cây bút đồng hương cùng thế hệ như Nguyễn Nhật Ánh với tập tản văn tái bản đến 16 lần Người Quảng đi ăn mỳ Quảng (2018), hoặc Lê Minh Quốc với tập bút ký lịch sử văn hóa Người Quảng Nam (2018)…

P.P.P