Nỗi niềm tài tử – giai nhân trong hát nói của Tản Đà

Tản Đà (1889-1939) bước vào lãnh địa văn chương hát nói khi mà thể loại này đang “nắng quái chiều hôm” trước yêu cầu đổi mới của văn học đang trong quá trình hiện đại hóa và trước những thị hiếu thẩm mỹ mới của cư dân thành thị. Căn cứ vào “Tản Đà toàn tập” (2)  do Nguyễn Khắc Xương sưu tầm, biên soạn, giới thiệu, thì Tản Đà sáng tác hát nói không nhiều, chỉ có 19 bài. Điều đáng nói là 19 bài này lại “phân bố” tương đối đều trong suốt cuộc đời cầm bút của ông. Bài hát nói đầu tiên được sáng tác năm 1914 (Tản Đà 26 tuổi), khi chưa dấn thân vào làng báo bằng nghề “Bán văn buôn chữ” và bài hát nói cuối cùng được sáng tác năm 1938 (50 tuổi) trước lúc nhà thơ mất. Có lẽ, nhờ song hành cùng cuộc đời tác giả, mà trong một chừng mực nhất định, cùng với các thể loại khác, hát nói đã góp phần chuyển tải được những cung bậc của người tài tử trong chặng đường cuối cùng của loại hình nhà nho đã từng một thời vang bóng “Xét trong tiến trình vận động toàn cục, Tản Đà là nhà nho tài tử thực sự cuối cùng có ý nghĩa kết thúc một loại hình tác giả trong văn học sử” (1).

“Đem thơ ca bán phố phường”, hát nói của nhà nho tài tử sống trong lòng xã hội tư sản đã có nhiều khác biệt so với truyền thống. Từ năm 1932 trở đi cho đến lúc mất, là quãng thời gian mà nhà thơ phải thường trực đối diện với cái nghèo, cái túng quẫn: Người ta hơn tớ cái phong lưu/ Tớ cũng hơn ai cái sự nghèo (Sự nghèo). Ông phải cộng tác với nhiều tờ báo trên cả nước và kiếm sống bằng nhiều nghề khác nhau như “Chữa thơ cho thiên hạ”, “Xem tướng số Hà Lạc”…. Có lẽ, vì sáng tác theo “đơn đặt hàng”, nên một số bài hát nói trong quãng thời gian ấy có phần xa lạ với cái tài và tình của  nhà thơ mà chỉ thiên về cổ động, tuyên truyền cho các nhà kinh doanh. Âu cũng là “Bước đường cùng” của người tài tử. Nhưng chỉ cần thoát ra khỏi nỗi lo cơm áo “Vợ dại con thơ, mọi sinh hoạt đều trông chờ vào một ngọn bút cả” (Giấc mộng con), Tản Đà lại là mình trong tiếng trống chầu và nhịp sênh phách, lại hoang hoải cô đơn “Tìm trong di sản” tiếng nói tri âm để chia sẻ với cha ông những ưu tư, phiền muộn về sự nghiệp, về bãi bể nương dâu của đời người: Quân bất kiến: thiên cổ hầu vương trụy lệ tàn bi ai tại dã (Chàng há chẳng thấy: nghìn xưa vua chúa công hầu rơi nước mắt trước tấm bia tàn, ngày nay còn ai đâu nữa). Thôi sử kịnh (văn nhân) an mã (võ tướng) cũng đều sai! Hơn nhau một chén rượu mời…(Hơn nhau một chén rượu mời)

Bàng bạc trong hát nói của Tản Đà là nỗi niềm tài tử – giai nhân, là sự sẻ chia, đồng cảm với số phận những con người tài sắc trong xã hội.

Đổi từ bút lông ra bút sắt, Tản Đà can đảm dấn thân vào lòng xã hội tư sản bằng cái nghề chưa hề có trong văn học truyền thống: nghề “Bán văn buôn chữ kiếm tiền tiêu” (Lo văn ế) với quyết tâm tạo nên sự nghiệp lẫy lừng bằng con đường mới khi mà giấc mơ hoa trên hoạn lộ không trở thành hiện thực. Nhưng “Cái tâm hồn ngây thơ lạc loài” (Lan Khai) lớn lên bằng đạo đức Tứ thư, Ngũ kinh ấy không hề được trang bị để tồn tại trong môi trường mới nên không thể nào hiểu được sự cạnh tranh khốc liệt của xã hội tư sản, của nền kinh tế hàng hóa. Để rồi, sau những đắng cay, tủi nhục, thất bại bẽ bàng, người tài tử trở nên cô đơn, lạc lõng. Nếu như nhà nho tài tử thuở trước, sau những vinh- nhục, thăng- trầm của quan lộ, đã trở nên ngông nghênh, phá phách, đã “tung hê hồ thỉ”, “xáo lộn cổ kim đi” thì Tản Đà lại khác. Không còn những dư ba của giàn đồng ca thời đại để tạo nên sự cộng hưởng, nhà thơ chỉ còn biết “Nói chuyện với ảnh”, “Nói chuyện với bóng”, đem bản thân làm đối tượng tri âm để giãi bày, tâm tình. Có lẽ trong lịch sử văn học, Tản Đà là nhà thơ đầu tiên nói nhiều về mình bằng những cảm xúc chân thành, bằng những khát vọng thành thực không hề được cường điệu, tô vẽ.  Và cảm hứng chủ đạo bao trùm lên chân dung tự họa vẫn là cái buồn cô đơn, cái sầu vạn cổ “lẽo đẽo đi về” trong từng đêm chớp bể mưa nguồn…

Giữa ồn ào, tấp nập của giai điệu phố phường, người học trò của Khổng Tử ở Á đông trở nên bơ vơ, lạc lõng. Cái “thiên lương” ngày nào hăm hở đem vào đời sống giờ trở nên vô nghĩa. Khí tiết thanh cao xuất – xử, hành – tàng của nhà nho ngày nào giờ trở nên xa ngái. Không còn nền kinh tế tự cung tự cấp, để người tài tử có thể ngao du sơn thủy, có thể ung dung lựa chọn đôi đường: “Tiểu ẩn, ẩn lâm tuyền; đại ẩn, ẩn thành thị” (Đường thư), mà chỉ có nền kinh tế hàng hóa với quy luật đấu tranh sinh tồn “Khôn sống, mống chết”. Vì thế, việc tự nhận mình là nhà nho ẩn dật theo con đường đại ẩn trong môi trường tư sản là chính nhà thơ đang “tự ăn thịt trái tim mình” (Trần Ngọc Vương) một cách chua chát “Khóc hổ ngươi cười ra nước mắt”. Để quên đi những phiền muộn trong thực tại, cũng như cha ông, nhà thơ tìm đến miền an trú trong tư tưởng Lão -Trang: “Gió hỡi gió phong trần ta đã chán/ Cánh chim bằng chín vạn những chờ mong” (Hỏi gió); tìm lãng quên trong “Dục phá thành sầu duy hữu tửu” (Muốn phá thành sầu chỉ có rượu mà thôi) nhưng “Cử bôi tiêu sầu sầu cánh sầu” (Nâng chén tiêu sầu sầu càng sầu thêm – Lý Bạch): “Nhân sinh ba vạn sáu ngàn ngày/ Coi những tỉnh, lúc say nào có mấy?/ Được lúc gần say, say hẳn lấy/ Say thời say, say vậy để mà điên” (Chưa say).

Bên cạnh việc nói nhiều về mình bằng những cảm xúc chân thành, Tản Đà còn thường xuyên đề cập đến số phận những người con gái tài sắc bằng sự đồng cảm, sẻ chia. Những thì thầm, mách bảo của cha ông trong quá khứ và từ thực tế của “những điều trông thấy” đã khiến nhà thơ đau đớn nhận ra vấn đề tài tử – giai nhân chỉ là sự trớ trêu của số phận, là “Đùa của tạo hóa” và buộc phải chấp nhận “Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân” (Cùng một lứa bên trời lận đận. Bạch Cư Dị): Bềnh bồng mặt nước chân mây/  Đêm đêm sương tuyết, ngày ngày nắng mưa/ Ấy ai bến đợi sông chờ/ Tình kia sao khéo lững lờ với duyên…./ Bước giang hồ nay ở lại mai đi/ Những ly hợp, hợp ly mà ngán nhỉ!(Cánh bèo).

Sự ra đời của trào lưu nhận đạo chủ nghĩa trong văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, đã tạo nhiều thuận lợi cho “những đứa con tài giỏi nhất của thời đại” (Phan Ngọc), tháo gỡ “vòng kim cô” Nho giáo, để đấu tranh đòi hỏi tình yêu, đòi hỏi giải phóng người phụ nữ. Bằng các thể loại khác nhau của thơ trữ tình, tự sự, người phụ nữ đã trở thành nhân vật trung tâm với những ước muốn, khát khao mang tính nhân văn sâu sắc. Không phải ngẫu nhiên mà hình ảnh người kỹ nữ trong “Tì bà hành” của Bạch Cư Dị lại trở thành một thứ thời thượng của hát nói, được các nhà nho tài tử ngâm nga, truyền tụng và lấy đấy làm cảm hứng sáng tạo, thể hiện sự đồng cảm về “Bước thăng trầm của kỹ nữ”: “Não nùng một khúc Tì bà/ Giang châu Tư mã ai là tri âm” (Nguyễn Công Trứ. Vịnh Tì bà); “Người trăm năm ngoảnh lại cõi trăm năm/ Tài với sắc tính ra là ngộ cả/ Quá ngán nhẽ người nằm thiên tải hạ/ Cùng với lên chung một gánh sầu” (Ngô Thế Vinh. Bến Tầm Dương)… Nhưng sự đồng cảm, sẻ chia này, theo chúng tôi vẫn chưa đi đến tận cùng của lòng trắc ẩn. Có lẽ, chưa một nhà thơ- nhà nho tài tử nào từng đêm bên chiếu hát lại bâng khuâng tự hỏi rồi sẽ đi đâu về đâu những thân phận “bèo dạt mây trôi” này? Căn cứ vào tác giả, tác phẩm của văn học giai đoạn này, chúng tôi nhận thấy chỉ có Nguyễn Du mới nói nhiều đến số phận bất hạnh của những con người tài sắc, những “vưu vật” (của quý hiếm) trong cuộc đời. Có điều, khác với bạn bè, khác với những tài tử cùng thời, Nguyễn Du không chọn hát nói làm phương tiện chuyển tải những cung bậc tình cảm của người tài tử. Cái tâm hồn “Mang mang thiên cổ sầu” ấy hình như không có chỗ cho nhịp trống chầu tom chát. Vì thế, thơ chữ Hán vẫn là sự lựa chọn tối ưu cho những “Đoạn trường tân thanh” từ “Độc tiểu thanh ký”, “Ngô gia đệ cựu ca cơ” cho đến “Long thành cầm giả ca”, “Điếu La thành ca giả”…

Tiếp nối khúc ca “đoạn trường” của Nguyễn Du, trong sáng tác của mình, Tản Đà mở rộng biên độ về số phận những con người tài sắc từ những nhân vật có thật trong lịch sử cho đến những nhân vật được hư cấu trong văn chương. Cho dẫu có khác nhau về cuộc đời, về sự lựa chọn chức phận, thì những con người này đều gặp nhau ở tiếng kêu thương đồng vọng về kiếp “hồng nhan bạc mệnh; hồng nhân đa truân; tài mệnh tương đố” đã giăng mắc tự nghìn xưa. Có lẽ, do những đặc điểm riêng về tâm tính, do hoàn cảnh đặc biệt của gia đình có mẹ xuất thân từ chốn bình khang, và những lận đận khoa cử, cơn đau tình ái buổi đầu… đã khiến nhà thơ tìm về với người xưa, với những con người tài sắc, để nửa phần khóc thương cho kiếp hồng nhan bạc mệnh, nửa phần khóc cho kiếp tài hoa dang dở của mình. Người đào nương ngày nào trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du giờ trở thành bạn tri âm, khách phù thế, người phong lưu… trong hát nói của Tản Đà đầy nâng niu, trân trọng: “Đầu xanh kia trôi nổi đã bao miền/ Thôi trước lạ sau quen đừng ái ngại/ Khắp nhân thế là nơi khổ hải/ Kiếp phù sinh nghĩ lại cũng như ai/ Ai ơi, vớt lấy kẻo hoài” (Cánh bèo); “Kiếp tiền sinh không vụng đường tu/ Thời chi để ngàn thu gương bạc mệnh” (Hơn nhau một chén rượu mời).

Không còn “Cuộc vui đầy tháng, trận cười suốt đêm” (Nguyễn Du. Truyện Kiều) của người tài tử với “yến yến hường hường” mà chỉ còn những tâm sự, chia sẻ đầy nước mắt khi đã biết “Hồng tụ thanh sam quân thi lệ” (Ống tay áo đỏ (chỉ người đẹp), vạt áo xanh (chỉ thư sinh) đều là chứa nước mắt). Đi xa hơn trong sự đồng cảm, xót thương và dường như để minh chứng cho “Khách cổ kim nào khác chi nhau” trong “Cái điều bạc mệnh”, nhà thơ đã viện dẫn các nhân vật tài sắc có thật trong lịch sử Trung Quốc và Việt Nam như Mỵ Châu, Phan Thị Thuấn, Tây Thi, Ngu Cơ:

Châu Nam Hải, thuyền chìm sông Thúy Ái,

Sóng Tiền Đường, cỏ ái bến Ô giang!

Ngẫm nghìn xưa, ai tài hoa, ai tiết liệt, ai đài trang,

Cùng một giấc mơ màng trong vũ trụ.

(Đời đáng chán)

Dẫu tiết liệt, đài trang, thì người trước kẻ sau đều có một chung cục đầy bi thương, ai oán. Và chính điều này, đã làm  cho hát nói của Tản Đà đi xa hơn cha ông trong việc thể hiện tiếng kêu đau đớn về bao kiếp tài – tình bị vùi dập trong xã hội.

Như vậy, bằng những nỗi niềm cá nhân và bằng sự đồng cảm, thương xót cho số phận những con người tài sắc, người tài tử trong hát nói của Tản Đà đã có nhiều thay đổi so với truyền thống. Trên con đường phát triển của lịch sử văn học, những sáng tác của Tản Đà không chỉ có ý nghĩa khép lại loại hình nhà nho tài tử đã có nhiều đóng góp cho văn học Việt Nam trung đại mà còn vinh dự “dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kỳ đương sắp sửa” (Hoài Thanh).

H.N.H