Người chọn Quảng Nam làm quê hương

Tôi nhớ vào những năm đầu thập niên tám mươi của thế kỷ trước, có “một gã trai thơm toe mùi Huế, bước vào khu vườn xứ Quảng”. Không biết có phải là định mệnh dẫn dắt, anh đặt chân lên mảnh đất Quế Sơn với tư cách thầy giáo dạy văn. Thế rồi, chính anh đã làm chết mê chết mệt đám học trò yêu văn chương của Trường THPT Quế Sơn ngày ấy. Sau những năm gắn bó ở miền trung du đất Quế, anh về với Núi Thành – khu vườn xứ Quảng của vợ, một xóm ven biển miền Trung – để tiếp nối cuộc hành trình của đời người. Và cả một đoạn đời gắn bó yêu thương, Núi Thành đã trở thành quê hương thứ hai của anh. Có thể nói, chính những nơi anh qua, những điều anh trải đã để lại dấu ấn khá sâu đậm trong cuộc đời anh, làm nên một cái tên Trương Văn Quang trong ngành Giáo dục và Đào tạo Quảng Nam và một Trương Vũ Thiên An trong làng văn của Hội Văn học – Nghệ thuật tỉnh nhà. Nói thế để thấy cả đoạn đời anh qua là một phần hiện thực trong tác phẩm của anh hay ít nhiều nó cũng khơi nguồn sáng tạo cho anh.

Đề tài trong những sáng tác, ở thể loại truyện ngắn của anh, trước hết là một dòng chảy bất tận của ký ức. “Ký ức rạng rỡ và cô đơn về một thời niên thiếu”. Nơi ấy có một ngôi trường nằm ở nội thành của Huế; một ngôi nhà yên tĩnh nơi phố liễu; một người thầy, một người cô và một người em phiêu dạt mang theo một mối tình đầu vụng dại. Và sau nữa là kỷ niệm của cả một đoạn đời nơi miền quê ven biển miền Trung đầy nắng và gió. Nơi ấy có một “khu vườn rậm rịt kỷ niệm”, có một ngôi trường với những cô cậu học sinh anh rất mực yêu thương.

Mười sáu truyện ngắn trong Gác chân lên cô đơn[1] là mười sáu lát cắt mỏng dính của hiện thực nhưng đó lại là hiện thực góc cạnh, nhiều chiều. Anh chủ tâm hướng về mạch ngầm của đời sống. Đó là đời người với vui buồn sướng khổ; với niềm đam mê và cả nỗi cô đơn. Và để mạch ngầm đó trở thành một dòng chảy xuyên suốt trong những trang truyện của mình, anh sử dụng một lối tự sự không theo trật tự thời gian, không gian mà theo biến tấu của cảm xúc hoặc nghiêng về triết luận. Chính vì vậy mà những truyện ngắn của anh hầu hết có diện mạo của truyện ngắn trữ tình như: Chị, Nước mắt biển, Biến tấu ve, Về giữa rêu phong, Vũ điệu cá heo, Mùa trái rụng, Phố Liễu, Người em phiêu dạt… hoặc truyện ngắn luận đề như: Thế cờ đi hậu, Lửa tem, Trăng thượng huyền, Cây mai ông ngoại.

Có thể nói, nhân vật trong truyện ngắn của anh hiện lên chủ yếu thông qua thế giới nội cảm. Anh tạo dựng hình tượng nhân vật bằng một hệ thống chất liệu là cảm giác, cảm xúc với các phức hợp khác nhau của chúng. Một “tôi”, thằng em trai trong truyện Chị,  lẩn thẩn giữa Sài Gòn tìm chị là hành trình quay về tìm lại cái “tôi” đã mất cùng với cái cảm giác của những ngày được sống bên chị ở Huế “Bên cây cầu. Cạnh dòng sông. Và dưới một cơn mưa dầm nữa”;  một đứa con gái tên Hà trong truyện Biến tấu ve  “lầm lì nhốt xác thân trong niềm đau và nỗi vui tự huyễn hoặc”  trước sự biến của gia đình (cha chuyển công tác về một cơ quan mới) để hơn một lần nhận chân những xáo trộn trong thế giới nội tâm của mẹ, của cha, những thay đổi của thế giới ngoại cảnh trước cuộc chia ly và nhận về mình “một niềm đau tinh khôi”; một “tôi” trong truyện Phố liễu đau thắt tâm hồn khi tìm về con phố quen, nơi có ngôi nhà yên tĩnh màu xanh, gốc liễu xanh, nơi có người thầy mà mỗi khi mường tượng lại  “Thầy tôi ngày ấy như một bài thơ Haiku Nhật Bản. Tịnh nén và nghi ngút tiết mùa”, nơi có người con gái rượu của thầy “với nốt ruồi bên nhánh sóng mũi có nụ cười e ấp làm tan nát tâm hồn tôi”; một “tôi” trong Người em phiêu bạt  với cuộc quay về tìm “tôi” đòi được trùng phùng, đòi một xác tín về “mối tình đầu thơ dại, hoa mộng thơm mùi sông nước, mùi da thịt bạn bè tôi một thuở hàn vi”…

Với lối cấu trúc theo kiểu đặt nhân vật ở vào một tình thế, một sự kiện đặc biệt của đời sống làm nảy sinh một biến động nào đó trong thế giới tình cảm hay đối mặt với một bài học nhận thức, anh đã khéo léo mở rộng không gian, thời gian nghệ thuật theo chiều kích của thế giới nội tâm nhân vật. Từ những quan sát, phân tích, chiêm nghiệm của nhân vật, anh thể hiện một thái độ, một cách cắt nghĩa và một kiểu quan hệ riêng với hiện tượng đời sống. Qua đó, anh có được những bài học về nhân sinh, nghệ thuật. Ví như: “Quá khứ dù có lỡ bị đốt cháy đi nữa thì quá khứ cũng không được quyền làm bỏng sém đi lòng tin của con người vào hiện tại” (Lửa tem), “Lạnh lẽo, cô đơn, trần truồng giữa thiên nhiên là cái giá khai hoa của loài mai phẩm tiết ư? Nhưng trở về với uyên nguyên của thiên nhiên nguồn cội, trút bỏ kiếp nạn cuối cùng của một mùa đông giá buốt, có khi lại là một nỗ lực sau cuối cần thiết cho mai để bừng nở cho một lần xuân về tinh khôi. Dẫu thế nào đi nữa, nếu thật trong cây mai ông ngoại kia có ẩn náu linh hồn thấm đẫm tình yêu cuộc sống của cha vợ tôi thì tôi tin cây sẽ khỏe lạnh vượt qua sự đánh đổi kia để nở với tôi, với đời.” (Cây mai ông ngoại), “Cả đời cờ của cha, chỉ có một thế trận cho là không học được, mà phải do tâm mà chọn, do duyên mà đến… Đó là thế trận bình phong mã… Con ơi! Bình phong mã thiên về đi hậu. Bình phong mã mượn sức người đánh người. Không đánh, không trả. Không bị công, không trả đòn, không làm hại ai cả” (Thế cờ đi hậu).

Quan niệm của anh về con người và cuộc đời đã hóa thành cảm hứng thẩm mỹ. Trên hành trình đi tìm cái đẹp trong dòng đời sinh hóa, dường như anh luôn hướng ngòi bút của mình về phía cô đơn để được thẩm thấu và nhận chân niềm đau nỗi buồn của con người. Nhân vật trong những trang truyện của anh thường trong trạng thái cô đơn. Một người cha “cô đơn trong đam mê và đam mê trong cô đơn”, cô đơn như một nhánh rong biển sau “bạn bầu hội hè với cả đại dương rồi cuối cùng lủi thủi trôi về nằm vắt ngang một mình trên đá ghềnh cộm gió” (Lửa tem); một người thầy “cô đơn mang về dãy hành lang nghẹn gió của khu tập thể nỗi buồn khó hiểu của biển cả” và quyết liệt đi về phía cô đơn trước những “giọt nước mắt sững sờ ái ngại của đám học trò”, một cậu học sinh cá biệt Phan Đài Ca “ôm một nỗi cô đơn kiêu hãnh và thống khổ” lặng lẽ xa trường để rồi “giữa đùn đùn kỉ niệm” của thầy, em hiện lên “cô đơn như một quả đồi nhỏ”(Nước mắt biển)… Và một cái tôi “cô đơn chật chội trong niềm đau” trong rất nhiều trang truyện. Hơn thế nữa, sự vật, sự việc nhiều khi được anh lột tả cũng cô đơn không kém. “Một nhánh liễu mảnh mai đang mở mắt cô đơn đầm đìa sương” (Phố liễu); một cây mai “lạnh lẽo, cô đơn, trần truồng giữa thiên nhiên” (Cây mai ông ngoại); một ngôi trường nằm đó cô đơn (Về giữa rêu phong)…

Những truyện ngắn trong tập sách của anh, đề tài không mới, không nhiều chi tiết, nhiều sự kiện và ở một vài truyện dường như không có cốt truyện, thế nhưng lại tạo được ấn tượng trong lòng bạn đọc. Có lẽ, những trang truyện của anh chiếm được cảm tình người đọc bởi nó thấm đẫm tính nhân văn và bàng bạc chất thơ. Một số truyện, màu sắc trữ tình xuất hiện khá đậm. Nhiều đoạn, nếu tách ra đứng riêng biệt giống như một bài thơ. Ví như: “Đêm thị trấn não nùng tiếng còi thiên lý bắc nam. Người đi và kẻ tiễn. Hội ngộ và chia ly. Được và mất. Hạnh phúc và khổ đau. Ngày mai cha ra tỉnh. Ngày mai cha về kinh. Gió bụi kinh kỳ có làm rát mặt ông thầy giáo làng, ông thầy giáo… thị trấn mười mấy năm quen quê quen kiểng.” hay “Mẹ tiễn cha đi với tâm thế của người con gái hơn hớn thủy chung xưa tiễn chồng ra kinh ứng thí. Sau lưng là mấy giậu tầm xuân đầm sương sớm. Cỏ bên đường mới đêm qua thôi, biết đâu chẳng vướng víu đỡ nằng nặng hai thân xác yêu nhau. Xa xa là kinh kỳ bí ẩn và quyến rũ và phỉnh phờ. Người đàn bà tưởng chừng hoang sơ quê mùa đó ngó đơn giản mà lẫm liệt và khát vọng quá. Trong trái tim quả thị, người đi là hoành tráng thần tượng. Người đi là bao la biển cả sông hồ. Kẻ ở chỉ là một chấm quê bé nhỏ ru rú, cư trú vào một chiều hoang sơ tiễn biệt. Đi đi mình. Mạnh dạn lên mình.” (Biến tấu ve).

Anh cẩn trọng chăm chút cho từng chi tiết để làm nên mạch ngầm ngôn bản trong mỗi câu truyện. Và dưới mạch ngầm ấy nhiều khi có những vùng cuộn xoáy rất sâu. Dường như người đọc khó lòng thoát ra được vùng xoáy như thế (dẫu đã khép lại tập sách). Làm sao chúng ta không bị cuốn theo những đoạn văn đầy ma lực như thế này: “Thưa thầy, không ai tin em cả. Có một gã học trò đã nói, đã kêu lên với thầy mình như thế trong một đêm biển gào thê thiết. Và gió thì ì oặt van nài nỗi sầu không cố xứ. Và một người thầy lòng đau như biển, cứ mường tượng cảnh mình dắt díu một đoàn còng líu ríu chen chúc bên bờ biển sụt sùi bọt nước. Đoàn còng có thật và nhỏ bé trước mênh mang. Nhưng đâu là câu chuyện về một con còng đã tách bầy và bể vỡ. Điều đó chỉ có biển và tôi biết.” (Nước mắt biển).

Trên suốt cuộc hành trình đi và viết, anh Trương Vũ Thiên An đã dành cho mảnh đất “chưa mưa đã thấm” một tình cảm ưu ái đặc biệt. Hiện thực trong mỗi trang truyện của anh hầu hết đều có bóng dáng của cuộc sống và con người xứ Quảng, nơi cuộc đời anh “bén rễ, xanh cây”.

N.M.H.K