Mùa xuân, đi tìm giọng điệu một nhà thơ trẻ

Thơ Nguyễn Lãm Thắng rất ít khi nhắc đến các địa danh. Địa danh xứ Quảng lại càng ít hơn. Mặc dù anh sinh ra và lớn lên ở đất Quảng. Sinh tuổi Quý Sữu (1973), quê làng Tịnh Đông Tây, xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc, hiện nay là giảng viên khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Huế. Ngoài thơ in rải rác trên các báo và trong các tuyển tập in chung, Nguyễn Lãm Thắng còn là tác giả của các tập thơ như Điệp ngữ tình (2007), Giấc mơ buổi sáng (2012), Họng đêm (2012) và tuyển tập thơ lục bát Đầu non cuối bãi (Nxb Đại học Huế, 2014). Tập thơ lục bát này gồm 54 bài, nhưng chỉ có ba bài anh nhắc đến địa danh trong tiêu đề bài thơ: Hồi chuông Yên Tử, Đêm trọ Hà Nội, Đêm Biên Hòa xa em và trong nội dung có hai lần nhắc đến xứ Quảng là  Thèm thuồng ngồi nhớ xa xăm/ Tay lua mì Quảng, tay cầm lòn bon (Nhớ chi nhớ lạ) và câu vận ca dao Chiều chiều lại nhớ chiều chiều/ Nhớ anh và nhớ rất nhiều Quảng Nam (Nhớ Phạm Phú Hải), nhưng có thể nói, từ cảm quan hiện thực, tâm thế sáng tạo, đến giọng điệu ngôn từ của Nguyễn Lãm Thắng đều là hồn cốt của văn hóa xứ Quảng, là sản phẩm “đậm tình miền Trung”, hữu thức thường xuyên trong anh, tạo nên tâm thức sáng tạo.

Trong lời bạt Những con chữ “đường phố” trong lục bát Nguyễn Lãm Thắng của một người đồng hương, nhà thơ thời danh Du Tử Lê, có ghi nhận: “Lại có người chú tâm, nỗ lực đem ngôn ngữ đường phố, những con chữ chưa có trong tự điển, những con chữ có thể yểu mệnh chỉ sau một thời gian sóng vai, cặp kê nhịp chảy xô bồ, láo liên, chộp giựt, bất nhẫn đời thường vào lục bát của họ. Như tuốt vỏ, lột da chính mình, để tận mắt thấy máu mình tươm ướt mối thương tâm! Ghi nhận trên của tôi, đi ra từ bảy bài lục bát tôi nhận được khá lâu, của Nguyễn Lãm Thắng” (tr. 90). Theo tôi, không chỉ là “ngôn ngữ đường phố”, mà cần phải nói rõ thêm rằng, đặc điểm nổi bật nhất trong thơ Nguyễn Lãm Thắng, đó chính là cách/ lối nói, anh không chỉ sử dụng các con chữ như là ngôn ngữ mang ý nghĩa vật chất mà còn biểu hiện nó thành ngôn từ, không chỉ là tiếng nói mà còn là lời nói, anh sử dụng “văn nói” và anh có cách nói riêng của anh, theo kiểu bạt mạng đầu non cuối bãi của người xứ Quảng: Co cái cẳng, gác cái tay/ Phiêu phiêu, ta thích ngủ ngày với em/ Kệ cha con gió khua rèm/ Lá khô cứ rụng, chẳng phiền chúng ta* Một đàn ông, một đàn bà/ Cộng đi, cộng lại, đoán là trăm năm/ Một chỗ nằm, hai chỗ nằm/ Cộng trừ thêm bớt vẫn đằm thủy chung*/ Đâu xuất phát, đâu cuối cùng/ Lửa trong tim vẫn cứ hừng hực reo/ Một nghèo cộng với một nghèo/ Níu nhau, ta cõng qua đèo đức tin*/ Một ồn ã, một lặng im/ Môi chung thủy, khắc máu tim đỏ lòm/ Dập dìu cuối bãi đầu non/ Ca dao hát điệu bồng con í à! “Co cẳng”, “đỏ lòm” hoặc “lua mì”, “chống cờm”, “con tơm”, “gió nờm”, “bàn chưn”… là những từ cửa miệng của người dân Quảng, chứ ít thấy xuất hiện ở các vùng khác! Ngôn ngữ là hệ thống tiếng nói của một dân tộc, một quốc gia, là tài sản chung của mọi người, nhưng ngôn từ là của riêng của mỗi người. Tương tự, về mặt phương ngữ học, từ địa phương là vốn từ của một vùng đất, do nhiều yếu tố tại nên, trong đó có cả cách phát âm của mỗi nơi, nhưng khi đã đi vào tác phẩm nghệ thuật, nó trở thành những sinh thể nghệ thuật/ tài sản riêng của từng tác giả. Những vật dụng, con vật trong cuộc sống đời thường đi vào thơ một cách tự nhiên như cách nói hàng ngày của người dân quê anh, nhưng không phải cách nói thông thường mà là đầy cảm xúc. Cảm xúc nồng nàn, hơi thở loạn nhịp của trái tim là tinh hoa của sự sống con người. Nhà thơ cảm quan hiện thực một cách sáng rõ, ươm mầm cảm xúc lên mọi vật xung quanh và nhìn vào đâu cũng có thế hình dung ra thế giới hình tượng, thậm chí dường như có thể lắng nghe được cả âm thanh và mang theo vào trong giấc ngủ chập chờn: Lại nằm thức với chim bao/ Nghe con chó sủa cấu cào bờ phên (Nỗi khuya). Thậm chí, cũng có những giấc mơ trần thế, thật hơn ý tưởng, nung nấu thành hành động ngông nghênh như muốn lột trần cái chân bản thể con người: Trong mơ ta lỡ cởi truồng/ Nhảy vào bản thể cội nguồn tắm chơi/ Gặp em ở tuốt trên trời/ Cũng loang lổ, với nụ cười khỏa thân (Trò chơi). Cái ngông nghênh ấy có khi trở nên nghiêm túc, đứng ở tầm cao trước không gian và thời gian, pha chút ngậm ngùi về thân phận tha hương: Rút câu thơ vá trùng mây/ Nhắc ngày xưa, trả tháng ngày rất xưa/ Đường về cố quận nhòe mưa/ Ba lăm năm ấy đong đưa phận người (Phục an). Hơi thơ gần gũi với nhà thơ đồng hương Bùi Giáng. “Cố quận” không phải là từ ngữ độc quyền của “trung niên thi sĩ” họ Bùi, nhưng ít ai dùng đến. Ngay cả đối với “nhà thơ chân quê” Nguyễn Bính, người tha thiết với quê xưa làng cũ, trong những vần lục bát tài hoa của mình, ông cũng chỉ gọi là “cố hương” trong mặc cảm tha hương, biệt xứ: Trót đà mang số sinh ly/ Bao giờ tôi mới được về cố hương”.

Thơ Nguyễn Lãm Thắng chủ yếu tập trung vào những vấn đề trữ tình – đời tư, những cảm xúc/ ý tưởng vụn vặt nhưng có khả năng khái quát thành những tư tưởng – nghệ thuật, tường thuật lại những gặp gỡ, chia xa hoặc công việc nhỏ nhặt thường ngày như Gặp chi cắc cớ rứa trời, Về chốn xưa, Ngó lại, Duyên muộn, Viết trước ngày chị làm dâu, Lẩn thẩn chiều quê, Tự nhiên vợ gọi, Ngủ dậy cho gà ăn,… Cũng có khi thông qua những hiện tượng cụ thể trong đời sống, nhà thơ  phát hiện những chi tiết độc đáo, đậm chất văn xuôi, có sức gợi trường liên tưởng đối với người đọc về một thế giới hình tượng lạ lẫm nhưng lại rất thân quen: Nửa đêm, con nhện cởi truồng / Tơ trinh kéo vội qua buồng tử sinh/ Vòng vo, rồi cũng gặp mình/ Võng đời mỏng lét bóng hình thế gian (Là rứa đó). Đối tượng trữ tình của nhà thơ thường là một em nào đó, là vợ, là người yêu cũ, là cô gái ngày xưa có chút cảm tình, hoặc cũng có khi là dòng sông, mảnh vườn, con chim hót, con chó sủa, trừu tượng hơn là tháng ngày, thời tiết, mùa màng… được nhà thơ phủ đầy cảm xúc, tạo nên sự sống cho những hình tượng sống động, không phải bằng những mỹ từ cao sang, đài các mà bằng những lớp sóng ngôn từ trần trụi, bình dân, như những tiếng nói cất lên từ đời sống cần lao. Sóng đôi với đối tượng trữ tình, là hình tượng tác giả – cái tôi trữ tình của nhà thơ ăn sóng nói gió, ngông ngênh bạt mạng, luôn khiêm tốn, tự trào, có chút tinh nghịch, luôn đặt mình ở tầng thấp ngước lên. Hãy nghe anh tường thuật cuộc đối thoại của nhà thơ và vợ: Tự nhiên vợ gọi. Hết hồn!/ Câu thơ trượt té. Vui buồn lăn quay/ Thằng tôi đang ở trên mây/ Đi tìm câu bát giữa ngày nắng hanh*/ Tự nhiên vợ gọi: Này anh! / Giọng quen quen. Vẫn giật mình! Mới đau!/ Quay sang vợ. Mặt mày chau: / – Em làm rớt mất một câu bát rồi! */ Tròn  xoe đôi mắt. Vợ tôi / Hỏi:- Gì?… Anh khéo lôi thôi!… Thật là! / Suốt ngày bờ lốc bờ la/ Lại còn bắt nạt người ta! Tôi cười: * – Thôi! Thiệt là khổ! Nường ơi!/ Câu thơ mới đó! Mất rồi! Tại em… / Vợ rằng: – Thơ thẩn! E hèm/ Nhớ em, nhớ ả! Còm men suốt ngày!.. (Tự nhiên vợ gọi).

Về nội dung mỹ cảm và thi pháp biểu hiện, không chỉ dừng lại ở việc khai thác những vỉa tầng văn hóa xứ Quảng, văn hóa miền Trung (chủ yếu là làm mới chất Quảng ở nước non xứ Huế) mà Nguyễn Lãm Thắng còn khai thác, làm mới văn hóa lịch sử dân tộc (Máu đỏ bên trời) và vận  dụng thể thơ lục bát truyền thống của văn hóa dân tộc, với lối điệp vần phong phú, nhịp 2/2, 2/4, 3/3 chuẩn mực, trong đó có những bài chỉ có hai câu (Nghĩ, Rơi, Đường khuya) hoặc bốn câu (Trồi, Gối, Hỏi, Buộc, Nắng), vẫn giải bày được tứ thơ và tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật, thể hiện được cảm hứng chủ đạo của tác giả và tư tưởng – nghệ thuật của tác phẩm: Cuộc đời là một chuyến đi/ Về nơi huyệt mộ, có chi mô nờ! (Nghĩ).  Tất nhiên, Nguyễn Lãm Thắng cũng không tránh khỏi những trường hợp quá lạm dụng ngôn ngữ đời sống, đến mức suồng sã, kém mỹ học, làm giảm đi vẻ đẹp của hình tượng hoặc chỉ dừng lại ở mức vần vè sơ lượt trong cách giải bày (Mùng hai Tết ngủ với ma, Bên góc chùa làng, Gối…).

Nguyễn Lãm Thắng năm nay đã bước vào tuổi bốn mươi lăm. Nhưng anh vẫn là nhà thơ trẻ, bởi lẽ, kể từ tập thơ đầu tay (2007) đến nay, anh mới hơn mười năm bước thấp bước cao vào con đường văn chương thơ phú. Nhưng điều quan trọng hơn, không phải con người mà là thơ anh rất trẻ. Khác với con người, thơ không có tuổi, nhưng thơ là một thế giới, mà thế giới thơ anh là thế giới trẻ. Nó không hẳn thể hiện ở nội dung hay hình thức, mà chính là ở hơi ấm tỏa ra từ trang giấy mà người đọc có thể cảm nhận được, cũng như mùa xuân đang đến không phải vì mưa bụi, nắng tươi, cây trái đâm chồi nảy lộc, mà chính là hơi thở mùa xuân đang ấm áp tràn về.

                                            P.P.P