Lần theo dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu

Hành trình đến với văn học của Nguyễn Minh Châu không dễ dàng, suông sẻ mà là quá trình lao động cần mẫn, đầy kiên nhẫn và luôn tìm tòi tự đổi mới. Sinh ra ở Diễn Châu, Nghệ An, năm 1950, khi cuộc kháng chiến chống Pháp đi vào giai đoạn sôi động, người học sinh chuyên khoa trường Huỳnh Thúc Kháng vừa tròn hai mươi tuổi ấy, từ giã sách vở lên đường nhập ngũ trở thành người lính chiến đấu ở vùng địch hậu thuộc đồng bằng sông Hồng và mười mấy năm sau ông mới trở thành nhà văn viết về người lính, tác giả của nhiều tác phẩm lần lượt xuất hiện được đông đảo bạn đọc chú ý: Cửa sông (1967), Những vùng trời khác nhau (1970), Dấu chân người lính (1972), Miền cháy (1977), Những người đi từ trong rừng ra (1982), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983), Bến quê (1985), Mảnh đất tình yêu (1987), Cỏ lau (1987) và nhiều truyện ngắn, trao đổi, tiểu luận in rải rác trên báo chí trung ương và địa phương. Có thể nói rằng suốt mười sáu năm – chặng đầu con đường sáng tác của Nguyễn Minh Châu là quãng đường tìm tòi, kiên nhẫn và có cả những thất bại thầm lặng. Một vài phóng sự, một vài truyện ngắn phác thảo về chân dung người lính được viết ra rồi chính tay tác giả hủy đi; một vài bài báo chìm nghỉm giữa những Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, Thư nhà của Hồ Phương, Vùng trời của Hữu Mai… những đồng nghiệp mặc áo lính cùng thời. Chỉ sau những chuyến đi vào khu Bốn và vào giữa những năm sáu mươi, Nguyễn Minh Châu mới tìm ra lối về với biển cả văn chương, đó là đầu năm 1967, Nguyễn Minh Châu có mặt trong đoàn quân ra trận, băng rừng vào chiến trường Quảng Trị, ông mới bắt đầu thấu hiểu ít nhiều về gương mặt thật của chiến tranh và có bước chuẩn bị bằng các truyện ngắn Mùa hè năm ấy, Mảnh trăng cuối rừng, để bắt tay vào viết tiểu thuyết Dấu chân người lính, mở đầu cho hàng loạt các tiểu thuyết và truyện ngắn.

Những chuyến đi vào chiến trường dài, ngắn khác nhau không thể đặt trùng khít lên mỗi trang văn, cũng như mỗi tác phẩm ra đời không thể tính bằng những chuyến vào ra. Nhưng có thể nói rằng, Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn gắn bó nhiều với chiến trường, hầu như có mặt liên tục ở “miền đất cháy, miền đất chết” này, bằng những chuyến đi dài ngày từ ba, bốn tháng đến hàng năm trời: 1967, 1969, 1972, 1975, 1979, 1981, 1984… với những trang nhật ký ghi chép chi chít chữ, nhòe nước mưa và bụi đất, khét lẹt mùi thuốc súng, ghi vội vã trên đường hành quân, giữa hai đợt xuất kích hay giữa tiếng reo vui chào đón chiến thắng của mọi người. Lần theo những chuyến đi, những chuyến vào ra, lần theo “dấu chân người lính” Nguyễn Minh Châu, tôi muốn hình dung ra vóc dáng tâm hồn của một con người có một khát khao đến cháy bỏng “muốn dùng ngòi bút tham gia trợ lực vào cuộc giao tranh giữa cái tốt và cái xấu bên trong một con người trong cuộc giao tranh không có gì ồn ào nhưng xảy ra từng giờ, từng ngày và khắp các lĩnh vực đời sống”[1].

Giờ đây, ngồi đọc lại Nguyễn Minh Châu, lần tìm lại dấu vết đời văn chưa phải là đồ sộ, chưa có gì là tòa ngang dãy dọc, nhưng cũng đủ để nhận ra một chân dung văn học đặc sắc, với những phẩm chất văn chương của một tài năng độc đáo. Đó là năng lực quan sát tinh tế, là ngòi bút giàu chất thơ, là tấm lòng đôn hậu rộng mở và chiều sâu triết học về con người – tư tưởng nhân bản trong văn chương. Đó là cái chung, cái nhất quán trong Nguyễn Minh Châu. Nhưng đọc Nguyễn Minh Châu tôi còn gặp nhiều con người trong một con người. Ít nhất có đến ba Nguyễn Minh Châu, đó là người lính mang trong mình tình yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, hòa nhập cái tôi riêng lẻ của mình trong cộng đồng, trong sản xuất và chiến đấu ở hậu phương (Cửa sông), hăng hái gia nhập đoàn quân ra trận đối mặt với kẻ thù trong trận chiến một mất một còn (Những vùng trời khác nhau, Dấu chân người lính). Ở Nguyễn Minh Châu giai đoạn này dễ tìm thấy sự hòa nhập ý thức cá nhân để làm nên ý thức cộng đồng. Trong phương thức sử thi hóa nhân vật, để đưa đến sự rạch ròi giữa chúng ta và chúng nó, giữa mất và còn trong thế đối đầu lịch sử giữa dân tộc và xâm lược. Cái riêng của Nguyễn Minh Châu là khả năng am hiểu tường tận về đời sống người lính và người nông dân trên dải đất miền Trung; là cái chân dung hồn hậu của người dân nghèo khó, bị cuốn hút trong cơn lốc nghiệt ngã của chiến tranh, thấp thoáng trong ánh hào quang chiến thắng và sự hy sinh cao cả, là bóng dáng những bi kịch âm thầm.

Con người thứ hai hằn lên giữa trang văn Nguyễn Minh Châu là người lính trở về sau chiến tranh, mở ra tấm lòng bao dung, nhân hậu với mọi người, trong đó có cả ý nghĩa nhân văn trong hòa hợp hòa giải dân tộc và đang đứng trước bao lo toan của cuộc sống đời thường, bao hậu quả của chiến tranh cần giải quyết, người lính cách mạng trước hết phải là người mang bản chất văn hóa nhân văn, văn hóa thương người, biết nhận diện đâu là kẻ thù, đâu là nhân dân và sẵn sàng làm mọi thứ để hàn gắn vết thương chiến tranh trong lòng mỗi người (Miền cháy), đồng thời còn quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân thời hậu chiến (Những người đi từ trong rừng ra). Ở những trang viết trong giai đoạn chuyển tiếp này, về căn bản Nguyễn Minh Châu vẫn giữ quan niệm nghệ thuật về con người và thi pháp biểu hiện theo kiểu cũ, giống như những trang viết của ông trước năm 1975. Những yếu tố mới mẻ, những đóng góp riêng của Nguyễn Minh Châu mới được thể hiện với những đề xuất có tính dự báo, mới đưa ra những thăm dò, chưa thể khẳng định trong tình hình xã hội có nhiều chuyển động mạnh nhưng văn học vẫn trượt đi trên một đường ray có sẵn, là tư duy nghệ thuật đã trở thành lối mòn của văn học viết về chiến tranh. Cái mới đó, sự đổi mới có tính tiên cảm ấy, là cần thoát khỏi cái nhìn định kiến của chủ nghĩa lý lịch (Miền cháy) là sự dự báo về chủ nghĩa công thần, là những biểu hiện đầu tiên của chủ nghĩa thực dụng, nỗi ham muốn vật chất đang xâm chiếm làm tha hóa con người sau chiến tranh (Lửa từ những ngôi nhà).

Truyện ngắn Bức tranh là bước ngoặt lớn trên con đường văn học dài gần bốn mươi năm của Nguyễn Minh Châu. Ở đây, ta gặp một Nguyễn Minh Châu mới lạ của Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê, Mảnh đất tình yêu Cỏ lau khác hẳn với Nguyễn Minh Châu đã đi qua chỉ để lại Dấu chân người lính mà còn dẫn đến sự khác biệt, sự đổi mới ấy, ông còn phải đi qua những Miền cháy và nhìn thấy tín hiệu Lửa từ những ngôi nhà… Vai trò tích cực trong xã hội của mỗi cá nhân sau khi đã tách khỏi cộng đồng, trong công cuộc xây dựng xã hội mới được khẳng định rõ rệt. Đó là cơ sở xã hội – lịch sử khách quan đã tạo ra một tâm thế sáng tạo mới cho người cầm bút, tâm thế chủ động của con người cải tạo hoàn cảnh, làm chủ tình huống. Lối viết giản đơn, một chiều không còn đáp ứng nhu cầu xã hội và thị hiếu thẩm mỹ nhiều mặt của đời sống đương thời. Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Chiếc thuyền ngoài xa, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát, Cỏ lau, Mùa trái cốc miền Nam… là những nhát cuốc mở đường, phát ra một lối mới để đi vào một thế giới thực tại đầy biến động; một vệt sáng rọi lên bức màn còn khuất nẻo của hiện thực, ghi nhận sự chuyển mình của đất nước, mở ra khuynh hướng dân chủ hóa, nhân vị hóa trong ý thức nghệ thuật, phá vỡ thi pháp cổ điển của chủ nghĩa hiện thực thế kỷ XIX.

Đã từng diễn ra trong một thời gian dài con người trong văn học cách mạng chỉ được soi rọi dưới mọi tọa độ duy nhất là xã hội – cộng đồng. Nguyễn Minh Châu đã từng có ý thức cựa quậy để thoát khỏi những ràng buộc có ý nghĩa toàn trị của tư tưởng xã hội và thời đại lịch sử, nhưng không thể làm được. Thác lời nhân vật Lực trong Cỏ lau, ông đã nhiều lần thừa nhận: “Tôi chỉ là con người của chiến tranh”, nhưng những trải nghiệm qua cuộc chiến, cho dù là chính nghĩa, cũng đã tạo cho ông một cái nhìn khác, một quan niệm/ nhận thức khác, hết sức chân thành: “Chiến tranh, kháng chiến, không phải như một số người khác, đến bây giờ tôi không hề mảy may hối tiếc đã dốc hết tuổi trẻ vào đấy cống hiến cho nó, nhưng nó như một nhát dao phạt ngang mà hai nửa cuộc đời tôi bị chặt lìa khó gắn liền lại như cũ” (Cỏ lau, tr.478). Sự loay hoay tìm đường trước đó và sự ào ạt tuông chảy một cách hào sảng mở ra luồng gió đổi mới, tưởng không có gì mâu thuẫn mà thể hiện bản lĩnh của một trí thức và bi kịch của sự nhận thức về chiến tranh, bởi vì cũng chính nơi đây, bên “những chân trời vỏ đạn” vào cuối những năm sáu mươi, Nguyễn Minh Châu đã nhận ra và ghi vào nhật ký của mình rằng: “Trong cuộc chiến đấu để giành lại đất nước (…) Phải chăng bên cạnh những đức tính tốt đẹp thì tính cơ hội, nịnh nọt, tham lam, ích kỷ, phản trắc, vụ lợi còn được ẩn kín và đã có lúc ngấm ngầm phát triển đến mức gần như lộ liễu? Bây giờ ta phải chiến đấu cho quyền sống của cả dân tộc. Sau này ta phải chiến đấu cho quyền sống của từng con người (…). Chính cuộc chiến đấu ấy mới lâu dài”[2]. Quả là, cuộc chiến đấu cho quyền sống của từng con người là cuộc chiến đấu lâu dài, dai dẳng, đòi hỏi bản lĩnh văn hóa và sự kiên trì của những người có lương tri, trong đó có nhà văn. Ngay chính Nguyễn Minh Châu, là người sớm nhận thức ra vấn đề, nhưng cũng phải gần ngót hai mươi năm sau (1987) mới chính thức phát ngôn Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn học minh họa.

Điều đáng nói hơn, qua diễn ngôn mộc mạc, con người, không gian, thời gian trong truyện của ông bao giờ cũng cụ thể, nhưng lại có sức khai quát mang ý nghĩa của con người thời đại, đang sống trong nhiều miền quê khác nhau, trong những thời điểm khác nhau. Ấy là nhờ nhà văn có được khả năng am hiểu nhiều loại người trong đội ngũ những người ra trận – người lính – nhiều miền đất khác nhau đang hội tụ về cái nơi mà ông gọi là “chân trời vỏ đạn” – nơi địa đầu giới tuyến, nơi có cuộc đụng đầu lịch sử của dân tộc ta trong công cuộc chống ngoại xâm.

P.P.P

[1] Nguyễn Minh Châu (1985), Phát biểu tại “Hội thảo truyện ngắn”, báo Văn nghệ, số 28. 1985.