Hình tượng con chó những biểu tượng đối nghịch

Trong lời mở đầu cuốn sách “Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới” (Bản tiếng Việt – NXB Đà Nẵng 2002 tr.XIV), tác giả Jean Chevalier có viết: “Nói là chúng ta sống trong một thế giới biểu tượng thì vẫn còn chưa đủ, phải nói một thế giới biểu tượng sống trong ta”. Thật vậy, văn hóa học lấy “biểu tượng văn hóa” làm đối tượng nghiên cứu và việc giải mã ý nghĩa cái biểu đạt (biểu tượng) của một hiện tượng, một hoạt động, một sản phẩm, một hình ảnh, một biểu hiện văn hóa…để khám phá, tiếp cận ý nghĩa của cái được biểu đạt. Và trong diễn trình văn hóa, lớp ý nghĩa của biểu tượng văn hóa bao giờ cũng phong phú, đa dạng, nhiều dạng thức hơn là bản thân biểu tượng. Dưới góc nhìn văn hóa học, hình ảnh hay hình tượng con chó cũng mang những đặc trưng như vậy.

Tục thờ chó đá của người Việt

Vào thời cổ sơ, chó (chien) gắn với những huyền thoại về Thần Chết, về cõi âm, bóng tối, địa phủ…Chó – với chức năng kẻ dẫn hồn người vào cõi âm, kẻ canh giữ địa ngục. Một số bộ tộc, biểu tượng chó gắn với tính dục bởi tính háu đói của loài chó. Biểu tượng chó cũng là một trong những vật tổ của các bộ tộc, ở một vài bộ tộc, chó là vị thần đã đánh cắp hài cốt con người để tái sinh ra giống người mới. Ở phương Đông – những con chó rơm đã được biểu thị cho việc hiến tế (Đạo Đức Kinh, chương 5).

Chó – một vật linh, một thần linh

Trong đời sống văn hóa người Việt, hình ảnh chú chó cũng thể hiện những ý nghĩa tốt đẹp. Trước hết, chó được xem như một hóa thân của thần linh, là đối tượng thờ cúng. Tục thờ chó đã có lịch sử lâu đời ở nước ta. Theo quan niệm của người Việt, chó được xem là phần dương, muốn canh giữ phần âm thì phải “nuôi” chó đá. Tạc tượng chó đá để thờ, kính cẩn gọi là cụ Thạch, quan lớn Hoàng Thạch như ở Hát Môn (Phúc Thọ, Hà Nội), làng Phù Trung (Thượng Mỗ, Đan Phượng, Hà Nội). Sách “Lịch triều hiến chương loại chí” ghi chép về trấn Thanh Hoa có viết: “Ngoài cửa nghi môn có hai con chó ngao bằng đá rất thiêng(1). Học giả Đào Duy Anh cho biết việc chó đá được dùng làm vật trấn yểm tà khí khi làm nhà:“Xưa kia, cửa ngõ thường không làm đúng chính giữa nhà và sân để người ngoài đừng nhìn thẳng vào trung tâm nhà. Người ta cũng thường kiêng không để cho có con đường đâm thẳng vào nhà, hay có đền chùa trước nhà. Nếu bất đắc dĩ không tránh được những điều kỵ ấy thì người ta chôn trước nhà một con chó đá hay là treo một cái gương ở trên cửa chính để yểm tà khí”(2). Trong việc thần thoại hóa hình tượng chó có nhiều sự tích như việc chó là hồn thiêng của người em vốn đoan chính nhưng bị người anh nghi oan dan díu với chị dâu nên giết đi và mắng “mày là con chó” hay chó là con vật có tài tiên tri bởi “chó đá” đã biết vẫy đuôi mừng rỡ khi gặp cậu học trò sắp đỗ đạt. Tại Chùa Cầu (Hội An) có thờ hai cặp linh vật là khỉ và chó với nhiều cách lý giải khác nhau. Giai thoại dân gian cho rằng vì khởi công năm Thân, hoàn thành năm Tuất nên dựng tượng để ghi dấu tích thời gian. Ý khác cho rằng có liên quan đến tín ngưỡng thờ linh thú của người Nhật trong các ngôi đền Thần Đạo còn theo các bậc cao niên thì đó là vật trấn yểm dựa theo phong thủy.

Một số dân tộc Trường Sơn – Tây Nguyên như Xơ Đăng, S’tiêng, Giẻ – Triêng, Pa Kô… coi chó là vật tổ, kiêng ăn thịt và thờ chó đá. Người Cơ Tu cũng vậy. Chó gắn với truyền thuyết kể về thủa hồng hoang có một trận lụt lớn tiêu diệt hết muôn loài, chỉ còn một cô gái và một con chó sống sót nhờ trốn vào một chiếc trống. Cô gái sống với chó như vợ chồng, sinh hai người con, một trai một gái. Lớn lên, người con trai xuống đồng bằng, cô gái ở miền núi. Cuối cùng họ gặp và lấy nhau, sinh ra một quả bầu. Từ quả bầu đó, người Cơ Tu, người Bru, người Tà Ôi, người Kinh ra đời…

Chó – một hình ảnh xấu và đồng thời là đẹp

Trong tâm thức nhiều dân tộc, chó thường là biểu thị của sự dơ bẩn, cái đói, sự sỉ nhục, kẻ bị đánh đập hay một thiên thần sa đọa về bản chất. Chung quy chó là một biểu tượng văn hóa đối nghịch -vừa là thiên thần (sự thủy chung, tình nghĩa, vâng phục, yêu quý, sự tinh nhạy hay thính nhạy…), vừa là ác quỷ (sự xấu xa, bệnh hoạn, bẩn thỉu, ăn bẩn, mưu toan lươn lẹo, phản phúc…)

Văn học dân gian ở Việt Nam cũng có nhiều thành ngữ, tục ngữ mang nghĩa xấu về loài chó như  “nhục như chó”, “bẩn như chó”, “lên voi xuống chó”, “đồ chó má”, “chơi như chó”, “tranh ăn như chó với mèo”, “chó ỷ gần nhà”… dựa trên những đặc điểm giống loài ưa ăn bẩn, chứng tham lam, ưa xâu xé, giành giật miếng ăn với đồng loại.

Như vậy hình tượng chó trong văn hóa luôn mang tính đối nghịch – một hình ảnh xấu đồng thời là đẹp.

P.T.Đ

Chú thích:

(1) Phan Huy Chú – Lịch triều hiến chương loại chí – NXB Giáo dục, Hà Nội 1960, tr.48

(2) Đào Duy Anh – Việt Nam văn hóa sử cương – NXB TP. HCM, 1992 tr.198