Di sản văn hóa văn nghệ dân gian Quảng Nam

Quảng Nam là vùng đất nằm ở vị trí trung độ của cả nước. Ở đây vừa có vùng rừng núi cao với những cánh rừng đại ngàn nơi cư trú truyền thống của các dân tộc ít người anh em Cơ Tu, Xơ Đăng, Giẻ – Triêng, Bh’noong… vừa có vùng trung du nhiều gò đồi cồn bãi, vùng châu thổ cửa sông ven biển và vùng biển đảo, những địa bàn cư trú chủ yếu của người Chăm rồi người Kinh từ lâu đời. Môi trường địa – sinh thái đa dạng cộng với bề dày lịch sử – văn hóa đã tích tụ nên tại xứ Quảng nhiều lớp, tầng văn hóa văn nghệ dân gian liên quan đến nhiều tộc người, nhiều thời kỳ lịch sử tạo thành kho tàng di sản văn hóa phi vật thể vô cùng phong phú và đa dạng.

Ra mắt CLB âm nhạc ở huyên Tiên Phước

Kho tàng di sản văn hóa phi vật thể này ở Quảng Nam được thể hiện, biểu đạt ở nhiều loại hình, hình thái, gắn với nhiều cộng đồng chủ thể, mỗi hình thái có những đặc điểm và giá trị riêng.

Về tiếng nói, chữ viết: tại Quảng Nam hiện tồn tiếng nói và các biểu đạt ngôn ngữ của các tộc người vùng cao Cơ Tu, Xơ Đăng, Giẻ – Triêng, Cor, Bh’noong… Vùng trung du, châu thổ thì có tiếng nói chữ viết của người Hoa, người Việt, người Pháp và một số nước phương Tây. Đặc biệt, Quảng Nam là một trong những chiếc nôi hình thành chữ Quốc ngữ vào thế kỷ XVII và là nơi có những đóng góp quan trọng để hoàn thiện chữ Quốc ngữ trong các giai đoạn tiếp theo.

Về ngữ văn dân gian: trên các địa bàn huyện thị của Quảng Nam hiện đang lưu truyền nhiều đơn vị tục ngữ, ca dao, hò vè, truyện kể dân gian gắn với đặc điểm cư trú và lịch sử – văn hóa từng địa phương, vùng miền. Ở Quảng Nam có loại vè Quảng khá đặc biệt, là loại tự sự có vần vè dễ nhớ và diễn tả được nhiều nội dung khác nhau. Từ kể vè, vè Quảng Nam trở thành một làn điệu phổ biến trong nhiều loại hình diễn xướng dân gian địa phương. Ở vùng cao thì có các sử thi, trường ca đồ sộ, các bài hát ru, hát lý của các tộc người có cuộc sống gắn liền với bà mẹ núi, rừng vĩ đại.

Về nghệ thuật trình diễn dân gian, Quảng Nam là vùng đất đang lưu giữ, bảo tồn nhiều loại hình diễn xướng dân gian có giá trị, trong đó có một số loại hình đã được tổ chức Unesco công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại như Nghệ thuật biểu diễn cồng chiêng, Trò chơi và hát bài chòi. Nhiều hình thức diễn xướng khác đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia như hát bả trạo, hát lý và điệu múa tân tung, da dá của người Cơ Tu… Ngoài ra trên mỗi vùng miền, mỗi địa bàn, các cộng đồng cư dân hiện đang lưu giữ, thực hành nhiều hình thức diễn xướng khác nhau gắn với nhiều lễ hội, nhiều sinh hoạt văn hóa, tôn giáo – tín ngưỡng tạo thành một bộ phận di sản diễn xướng dân gian vô cùng phong phú, độc đáo như hát sắc bùa, múa thiên cẩu, biểu diễn du hồ, hát bội…

Về tập quán xã hội và tín ngưỡng: do gắn với nhiều tộc người và nhiều địa bàn cư trú có đặc điểm địa – sinh thái khác nhau nên tại xứ Quảng đã hình thành nên nhiều tập quán xã hội và tín ngưỡng khác nhau. Trước hết là các tập tục, luật tục gắn với đời sống và môi trường cư trú của đồng bào ít người vùng cao, thể hiện sự ứng xử tích cực và hòa nhập sâu sắc của con người với môi trường tự nhiên. Ở các vùng trung du, châu thổ và biển đảo thì có các Hương ước, Tộc ước của các làng xã người Việt, người Hoa, người làng Minh Hương…Các tín ngưỡng liên quan đến chu kỳ vòng đời người, đến tâm lý sùng kính các thế lực tự nhiên, các nhiên thần, nhân thần… cũng rất đa dạng và chứa đựng nhiều thông tin lý thú về lịch sử – văn hóa.

Về lễ hội, có thể nói Quảng Nam là vùng đất có nhiều lễ hội độc đáo và có giá trị trải dài từ vùng núi cao cho đến biển đảo. Một trong số chúng đã được công nhận là di sản phi vật thể quốc gia như Lễ hội rước Cộ bà chợ Được; Lễ dựng Nêu và bộ Gu của người Cor…Nhiều lễ hội đang được duy trì thường xuyên ở nhiều địa phương, địa bàn liên quan đến quá trình khai thác các tài nguyên núi rừng như Lễ mở cửa rừng; Hội vây cọp, đến quá trình canh tác nông nghiệp như Lễ Cầu bông, Lễ Mục đồng; đến ngư nghiệp như Lễ hội Cầu ngư; đến thủ công nghiệp như Lễ giỗ Tổ nghề mộc Kim Bồng, đồng Phước Kiều, gốm Thanh Hà…

Về nghề truyền thống: dDo đặc điểm về lịch sử và dân cư nên Quảng Nam là đất của nhiều nghề truyền thống. Ở mỗi nghề hiện đang bảo lưu nhiều tri thức, kinh nghiệm về sản xuất, chế tác khác nhau – kết quả dài của quá trình thích nghi, hòa nhập với môi trường tự nhiên và sáng tạo, tiếp biến giao lưu về văn hóa. Các ngành nghề này đang được các cộng đồng chủ thể ở nhiều địa bàn thực hành, lưu truyền từ đời này qua đời khác như nghề dệt thổ cẩm của người Cơ Tu, nghề khai thác yến sào Thanh Châu, nghề mộc Kim Bồng – cả ba đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; nghề đúc đồng Phước Kiều; nghề dệt Mã Châu; làm chiếu Bàn Thạch; nghề làm mắm ở Duy Hải, Duy Xuyên; nghề buôn, nghề chải cau làm quế ở Hội An…

Về tri thức dân gian: ở Quảng Nam hiện tồn một kho tàng tri thức dân gian đồ sộ liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Đó là kho tri thức ứng xử – thích ứng với môi trường tự nhiên để tồn tại và phát triển, là kho tri thức ứng phó với thiên tai, bão lũ, tri thức về y dược để phòng chữa bệnh trong điều kiện y học chưa phát triển như hiện nay, tri thức về ẩm thực gắn liền với nhiều thức ăn đồ uống đặc sản của nhiều vùng miền, tri thức về khai thác chế biến các sản vật của vùng núi, vùng biển như trầm hương, quế, cau, tiêu, dầu rái, lòn bon, yến sào…

Sơ bộ phác thảo về diện mạo của kho tàng di sản văn hóa văn nghệ dân gian ở Quảng Nam như vậy để hình dung về sự đa dạng, đồ sộ của kho tàng văn hóa này. Trong các năm qua, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng các cơ quan chuyên môn cùng một số cá nhân cũng chỉ mới sưu tầm, phổ biến được một phần nhỏ của di sản. Công tác kiểm kê, nhận diện từng loại hình gắn với từng cộng đồng chủ thể cũng chỉ mới được khởi động trong một vài năm gần đây và cũng chỉ với những loại hình nổi trội dễ nhận diện. Còn lại phần lớn vẫn còn nằm ở trong đời sống của các cộng đồng dân cư ở các bản làng, thôn xóm mà chưa được kiểm kê, nhận diện. Chi hội văn nghệ dân gian Quảng Nam được thành lập từ năm 2012 và số lượng hội viên chính thức chưa vượt qua con số 10 người nên cũng chưa làm được gì nhiều để thực hiện mục tiêu sưu tầm, nghiên cứu, phổ biến, truyền dạy về vốn văn hóa văn nghệ dân gian xứ Quảng. Thêm vào đó, tác động của quá trình đô thị hóa đang từng ngày từng giờ tác động mạnh mẽ vào cuộc sống của các cộng đồng chủ thể ở các bản làng, thôn xóm dẫn đến tình trạng làm các hình thái di sản văn hóa phi vật thể ở đây mất dần đi sức sống và bản sắc riêng có.

Các già làng làng Bhơ Hôồng nói lý, hát lý phục vụ du khách tham quan

Tất cả những điều đó đang đặt ra một nhiệm vụ hết sức khẩn cấp, quan trọng của những người yêu mến di sản văn hóa phi vật thể của địa phương là phải kịp thời tiến hành bằng nhiều biện pháp, nhiều lực lượng, nhiều nguồn kinh phí để kiểm kê, nhận diện, nghiên cứu, phổ biến về các loại hình văn hóa phi vật thể ở Quảng Nam từ trên nguồn cho đến dưới biển. Qua đó, lập một ngân hàng dữ liệu về di sản văn hóa văn nghệ dân gian của địa phương, chạy đua với thời gian để hạn chế tình trạng mai một, thất thoát nguồn tư liệu này bởi sự ra đi của các nghệ nhân, các nhân chứng nắm giữ kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm, bởi sự thay đổi trong đời sống vật chất và tinh thần dẫn đến sự thay đổi, cải biến các hình thái văn hóa phi vật thể đang xảy ra từng ngày, từng giờ ở nhiều địa phương trên địa bàn xứ Quảng.

                                                           T.V.A