Bục giảng – Trang xưa

Xin được bắt đầu bằng lời của chính tác giả trong một bài viết: Hãy nhìn ngắm ánh dương buổi sáng, hãy sờ vào những thạch nhủ long lanh, hãy cảm nhận cái rét ngọt đầu xuân,…bạn sẽ chạm vào bao điều kỳ diệu. Khởi thủy là đẹp. Như trẻ nhỏ chạm vào trò chơi ru-bic, tôi lật ô màu tình yêu, và khởi thủy là mơ ước.

Khởi thủy là đẹp. Và khởi thủy là mơ ước. Tôi chạm vào Bục giảng – trang xưa của Nguyễn Tấn Ái và lật giở từng trang sách lấp lánh sắc màu của cái đẹp, của mơ ước, của bao lời nhắn gửi để rồi thấy mình thật hạnh phúc khi được bạn tin yêu trao cho cái nhiệm vụ giới thiệu đứa con tinh thần của anh đến với bạn đọc.

Có lẽ, Nguyễn Tấn Ái đã chọn “Bục giảng” – nơi anh gắn bó yêu thương trên suốt cuộc hành trình của một đời người – làm điểm tựa để anh đến với “Trang xưa”, đến với những áng văn, lời thơ được đưa vào giảng dạy trong chương trình giáo dục phổ thông. Đó là những tác phẩm mà anh, với tư cách là một thầy giáo dạy văn, cùng bao thế hệ học trò của anh đã say mê đắm đuối.

Năng lực cảm thụ văn học vốn rất chuyên biệt: mỗi người có một sở trường, mỗi cây bút chỉ mạnh về một “ngón” nào đó mà thôi. Trong hai thao tác cơ bản của việc bình văn bình thơ, Nguyễn Tấn Ái thiên về bình nhiều hơn giảng. Anh không chú tâm nhiều đến việc cắt nghĩa hay cố gắng giảng cho “vỡ chữ” mà thường xoáy sâu vào một ấn tượng nào đó bộc lộ sự rung động, sự cảm kích, cảm phục trước áng văn lời thơ và tâm hồn tác giả.

Mười hai bài viết được anh tập hợp làm nên tập sách là mười hai sắc thái biểu cảm khác nhau. Nhưng mạch cảm xúc chính xuyên suốt tập sách vẫn là cảm hứng về người tài và cái đẹp – cái đẹp trong tình yêu và trong thơ ca. Trọng người tài và yêu cái đẹp, nên chủ đề mà anh tạo dựng hay tác phẩm anh hướng đến thường đạt được các tiêu chí của cái đẹp và thể hiện được tài năng của người nghệ sĩ.

Với mục đích đi tìm cái đẹp trong ánh sáng của tình yêu và hướng thiện, anh chủ tâm kết nối các bài ca dao thành những chủ đề như: Cổ tích – gập ghềnh nước mắt, chông chênh nụ cườiƯớc xưa còn đẹp. Và trong niềm say mê ngây ngất trước vẻ đẹp của ca dao anh phóng bút làm nên những trang phê bình đẹp, giàu tính nhân văn và lấp lánh chất thơ. Đây là một trong những vòng hào quang như thế: Phải chăng công năng của cổ tích là xóa đi cái đau giữa đời thường để chỉ còn cái đẹp lên ngôi, thăng hoa, rồi lại trở về phảng phất giữa đời thường?Phải chăng là như một giấc mơ, đằng sau những trang đời cổ tích, sau những giọt đau luôn tỏa sáng những ánh cười? Và nước mắt với nụ cười đã là những hấp dẫn của huyền thoại cổ xưa. (Cổ tích – gập ghềnh nước mắt, chông chênh nụ cười)

Anh đã xâu chuỗi các truyền thuyết, cổ tích thành những sự kiện và rọi chiếu nó dưới nhiều chiều kích khác nhau để nhận chân giá trị nghệ thuật và đưa ra những nhận xét, đánh giá hoặc gợi cho người đọc một ý nghĩa nào đó. Từ trong truyền thuyết anh có được những lời bàn sâu sắc: Nhân dân tự ngày xưa, ngàn xưa, nghìn xưa và bây giờ cũng thế: Vĩ đại mà bình thường! Khổng lồ mà bé nhỏ! Cống hiến và thua thiệt! (Truyền thuyết Thánh Gióng).

Chuyện Lang Liêu đánh dấu một bước trưởng thành trong văn hóa dân tộc thời Hùng Vương. Dân ta đã biết làm ra sản vật là lúa gạo, lại biết thuần hóa muôn thú thành bầy đàn, lương thực đã dồi dào giàu có. Dấu tích của một nền văn minh lúa nước đã có tự rất lâu đời (Truyền thuyết Bánh chưng bánh giầy).

Bằng tất cả tình yêu và sự trân quý đối với những áng văn chương bất hủ của dân tộc, anh cẩn trọng xếp các tác phẩm đó thành những luận đề để rồi nhận thức lại và bộc lộ sự đề cao chân thành sâu sắc về giá trị của từng tác phẩm, tác giả. Ví như đôi lời bạt của anh về chủ nghĩa nhân đạo trong Truyện Kiều của Nguyễn Du: “Cái tài thơ làm thành hay, cái lòng yêu người làm thành sâu mà cái tầm dám quý trọng cái tình làm thành lạ. Hay, sâu, lạ đã làm nên vị trí có một không hai của phẩm giá truyện Kiều”. (Tinh thần nhân đạo trong văn học thế kỷ XVIII qua những tác giả, tác phẩm tiêu biểu).

Có thể nói, cảm hứng người tài và cái đẹp được anh thể hiện rõ nét nhất trong những bài viết về các tác phẩm được cho là “kinh điển”. Đó là vẻ đẹp của khát vọng trong ba bài thơ nổi tiếng: Tống biệt hành (Thanh Tâm), Hành hương Nam (Nguyễn Bính), Tây Tiến (Quang Dũng); vẻ đẹp của chữ “Tâm” trong Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân); vẻ đẹp của thi ảnh trong Đàn ghi-ta của Lor-ca (Thanh Thảo); vẻ đẹp của một hồn thơ trong Đò Lèn (Nguyễn Duy)… Qua đó, anh đề cao tài năng của các nhà văn, nhà thơ: Nguyễn Tuân bậc thầy về ngôn ngữ; Kim Lân biệt tài về truyện ngắn; Nguyễn Duy khéo tay điều khiển ngôn từ… Và  cái điều anh cảm nhận được cũng mang tính quy luật:“Cái đẹp đã ngự trị trên cõi ngắn ngủi này. Nghệ thuật cao hơn, bất diệt, vĩnh hằng trước cuộc đời hữu hạn thường hằng điều đó luôn là niềm tin và lạc quan cho những tâm hồn nghệ sĩ chân chính, cho những bản lĩnh nghệ thuật tầm cỡ”. (Cảm hứng người tài cái đẹp trong Đàn ghi-ta của Lor-ca).

Nhà văn Ai-ma-tốp cho rằng: “Nhà văn phải biết khơi lên ở con người niềm trắc ẩn, ý thức phản kháng cái ác; cái khát vọng khôi phục và bảo vệ những cái tốt đẹp”. Là một người cầm bút, hơn ai hết Nguyễn Tấn Ái hiểu rõ trách nhiệm của mình trước cuộc đời, vốn còn nhiều đắng cay tủi cực. Và bài học được anh rút ra từ trong di sản của cha ông cũng vô cùng thấm thía:

Tôi hiểu lời dặn dò cha ông nhắn nhủ: Sẽ là phù du cuộc đời, chỉ có những ai biết sống đẹp mới là tồn tại vĩnh hằng. Tôi hiểu đời vốn nhiều nước mắt nên mong rằng đừng thêm nước mắt. Khẽ hỏi mình liệu trong va chạm với đời có khi nào tôi đã chạm vào nỗi đau của một ai, và nước mắt đã chảy? Rằng trong ngông nghênh non trẻ đời mình tôi đã dập tắt của ai đó một tiếng cười? Rằng đang khi muốn làm người em hiền lành bên cây khế mà kỳ thực tôi đã hẹp hòi như một người anh biển lận? (Cổ tích – gập ghềnh nước mắt, chông chênh nụ cười).

Với một kiểu phê bình “lạ” và một kiểu cấu trúc “lạ”, Nguyễn Tấn Ái đã làm nên một sự khác biệt. Khác biệt trong cách tiếp cận; cách cảm, cách hiểu; cách tổ chức ngôn từ… Đây là sự khác biệt cần thiết và rất đáng ghi nhận. Nhất là với cách dạy học văn hiện nay đang đề cao sự gợi mở, dẫn dắt để học sinh bày tỏ quan điểm, suy nghĩ của mình và khơi gợi sự sáng tạo.

Bình văn, bình thơ cần đến sự đắc đạo, cảm xúc phải “chín” mới tác động vào rung cảm thẩm mỹ nơi tâm hồn người đọc. Có thể nói, những bài phê bình của Nguyễn Tấn Ái có sự thăng hoa cất cánh của cảm xúc, có sự mê say đắm đuối, có chút mộng mị dễ thương, có những liên tưởng sâu xa và có sự va đập cần thiết mà cuốn hút người đọc.

Là người cùng hội cùng thuyền, tôi hiểu Nguyễn Tấn Ái đã phải lao tâm khổ tứ, vất vả thế nào khi làm công việc của người “phu chữ” để có được tập phê bình văn học Bục giảng – Trang xưa. Và tôi thật sự trân trọng sự đam mê và tình yêu anh dành cho văn chương, chữ nghĩa.

Xin bạn đọc hãy dừng lại, thật lâu, thật chậm, và hãy lật chiếc bình mơ ước ấy ra, trong đó lung linh sắc màu”!

N.M.H.K