Du lịch văn hóa Quảng Nam 2017 – Còn đó những nỗi lo

Xuất phát từ những đặc thù về địa lý – lịch sử – nhân văn, vùng đất Quảng xưa và tỉnh Quảng Nam ngày nay đã trở thành một trong những trung tâm văn hóa và du lịch với sự phong phú đa dạng của các di sản văn hóa, cả văn hóa vật thể và phi vật thể. Sự đa dạng đó đã thể hiện những giá trị đặc trưng của văn hóa và con người Quảng Nam. Bởi lịch sử đi qua đã hun đúc, lưu lại trên đất Quảng hôm nay sự ngưỡng mộ của hậu thế về một bề dày truyền thống văn hóa với biết bao dấu tích, di sản còn được bảo tồn thông qua các di tích khảo cổ, các công trình kiến trúc, văn hóa dân gian, phong tục tập quán, lễ hội, lối ứng xử, diễn xướng dân gian, tiếng nói, cả ở vùng núi và vùng đồng bằng ven biển, đảo… kể cả “khí – chất” con người xứ Quảng riêng biệt trong cái chung của dân tộc. Đặc biệt, trong đó có hai di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia đặc biệt, đồng thời là Di sản văn hóa thế giới (Khu phố cổ Hội An, Khu đền tháp Mỹ Sơn) và Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An.

Đón các phu nhân trong hoạt động APEC tại Hội An

        Với những lợi thế so sánh vượt trội về tiềm năng di sản văn hóa, thiên nhiên, trong những năm qua ngành Bảo tồn di sản văn hóa và phát triển kinh tế du lịch của tỉnh đã đạt được những thành tựu to lớn. Đặc biệt, năm 2017 theo đánh giá từ Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch là năm sôi động của du lịch Quảng Nam. Năm chứng kiến nhiều sự kiện chính trị, văn hóa diễn ra trên địa bàn tỉnh như Festival Di sản Quảng Nam lần thứ VI, APEC, ngày giao lưu văn hóa Việt Nam – Nhật Bản, Hàn Quốc… Thông qua các sự kiện này, hình ảnh du lịch Quảng Nam đã được quảng bá, giới thiệu đến đông đảo du khách trong nước và quốc tế. Các chỉ số đạt được của năm du lịch Quảng Nam 2017 khá ngoạn mục, thuyết phục về tốc độ phát triển, đóng góp cho sự phát triển chung về kinh tế của tỉnh nhà, giải quyết được nhiều lao động, việc làm và góp phần nâng cao đời sống, thu nhập cho nhiều hộ gia đình từ các đô thị đến nhiều vùng thôn quê. Du lịch cũng đóng góp rất lớn vào nguồn thu cho sự nghiệp bảo tồn, tu bổ, tôn tạo, phục hồi phát huy các giá trị của di sản văn hóa, thiên nhiên. Tổng lượt khách tham quan, lưu trú đạt khoảng 5,35 triệu lượt, tăng 13,7% so với năm 2016. Trong đó khách quốc tế đạt khoảng hơn 2,767 triệu lượt. Doanh thu du lịch đạt khoảng 3.860 tỷ đồng, tăng 24,5%. Thu nhập xã hội từ du lịch khoảng 9.200 tỷ đồng, đạt 100% so với kế hoạch. Không chỉ ở hai điểm du lịch nổi trội của Quang Nam là Hội An và Mỹ Sơn, các điểm du lịch làng bích họa Tam Thanh, Tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng, địa đạo Kỳ Anh (Tam Kỳ), Tam Hải (Núi Thành), hồ Phú Ninh, làng du lịch cộng đồng Triêm Tây, chợ quê Tiên Phước, và các giá trị văn hóa đặc sắc của cộng đồng các dân tộc miền núi phía Tây Quảng Nam… cũng được giới thiệu, quảng bá và sôi động du khách đến tham quan, đạt tăng trưởng nhanh. Để có được những thành quả trên phải nói đến vai trò đóng góp rất to lớn, có tính chất tham mưu quyết định của cán bộ, ngành Bảo tồn – bảo tàng văn hóa và phát triển du lịch từ cấp tỉnh đến huyện. Nhất là, cán bộ và ngành Du lịch của tỉnh trong những năm qua đã có nhiều nỗ lực, đóng góp rất lớn, trên tất cả các lĩnh vực quảng bá, xúc tiến, liên kết, đầu tư cho sự phát triển thành công chung của hoạt động  kinh tế du lịch.

Xuất phát từ những điều kiện và thực tiễn này, Tỉnh ủy Quảng Nam đã có Nghị quyết số 08/NQ – TU ngày 27.12.2016 về phát triển du lịch Quảng Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 và cùng với nghị quyết số 08 – NQ/TW ngày 16.01.2017 của Bộ chính trị về phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, trong tương lai chắc hẳn du lịch Quảng Nam sẽ còn gặt hái được nhiều thành quả tốt đẹp hơn nữa. Tuy nhiên, để du lịch Quảng Nam phát triển bền vững, xứng đáng với tiềm năng di sản vốn có và với vai trò là một trong những trung tâm phát triển du lịch của vùng và cả nước, còn nhiều vấn đề phải đặt ra, trong phạm vi của bài viết này chúng tôi chỉ xin nói đến nỗi lo về nguồn lực cho bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, phát triển kinh tế du lịch bền vững ở Quảng Nam đang được đặt ra đáng quan tâm.

Trước hết nói về nguồn nhân lực, mặc dù phải nằm trong cái chung của cả nước, nhưng muốn đi lên và phát triển kinh tế du lịch từ tài nguyên văn hóa – nhân văn và tài nguyên thiên nhiên – hệ sinh thái/ đa dạng sinh học… theo Nghị quyết 08 của Tỉnh ủy Quảng Nam về phát triển du lịch, tỉnh Quảng Nam không thể không quan tâm đến nguồn nhân lực cho lĩnh vực này. Khi bàn về sức mạnh của một quốc gia, cố Tổng thống Mỹ Nixon đưa ra công thức tổng quát là: Sức mạnh quốc gia = (Nguồn nhân lực + của cải vật chất) x Ý chí quốc gia. Đặt vấn đề này khi nhìn lại nguồn nhân lực – tức là lực lượng cán bộ có chuyên sâu về lĩnh vực bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của Quảng Nam quả thực còn rất mỏng, rất thiếu và yếu, nhất là ở cấp huyện. Ngoài Hội An, Duy Xuyên (hai địa phương có Di sản Văn hóa thế giới) thì hầu hết các huyện đều không có cán bộ chuyên trách công tác bảo tồn, bảo tàng và du lịch mà chỉ có cán bộ kiêm nhiệm, trong khi đó ở cấp huyện ngành Văn hóa bao trùm khá nhiều lĩnh vực (quản lý nhà nước về văn hóa, hoạt động phong trào về văn hóa nghệ thuật, thông tin,  thể thao, gia đình, trẻ em và du lịch…( ngoại trừ Hội An có Phòng Thương mại – Du lịch). Ở cấp tỉnh, tuy có Trung tâm Quản lý di tích & danh thắng Quảng Nam nhưng cũng không đủ lực và nhất là nguồn kinh phí để vươn xuống cấp huyện. Trong khi bảo tồn và phát huy di sản văn hóa là một ngành khoa học trong khái niệm chung “bảo tồn và phát triển” nghĩa là bảo tồn cái gì và phát triển như thế nào quả là vấn đề không dễ nhận thức, và cũng không dễ để thống nhất. Thực tế hiện nay, lớp trẻ theo học ngành này cũng rất ít, ngay cả những kiến trúc sư ra trường cũng không được đào tạo về bảo tồn kiến trúc di sản. Việc truyền nghề thủ công truyền thống, nghệ thuật – diễn xướng dân gian cũng gặp rất nhiều khó khăn vì không tìm ra người để đào tạo/ truyền nghề? Hơn nữa cũng rất ít người có ý định theo nghề này, nhất là về các địa phương cấp huyện và ở huyện miền núi thì càng không thể? Năm qua các cơ quan thông tấn cũng luôn theo sát phản ánh thực trạng này với các tiêu đề: Tìm người làm văn hóa; Áp lực lên di sản; Di sản & những nỗi lo;…

Những rừng dừa tỏa bóng ở làng Bích Họa xã Tam Hải, huyện Núi Thành

      Nhiều dự án, chương trình phát triển du lịch di sản văn hóa ở các địa phương trong tỉnh được tích cực triển khai, có cả sự tham gia, trợ giúp của các tổ chức UNESCO, ILO… gọi chung là tạo sản phẩm du lịch mới hoặc “đánh thức tiềm năng du lịch”… các chương trình tái hiện/ trình diễn/ phục dựng, sân khấu hóa hoặc trải nghiệm cho du khách… do người dân địa phương được mời tham gia hoặc do diễn viên đóng hay thuê người diễn như đóng phim qua dịp/ đợt khai trương hay hoạt động lễ hội/ sự kiện văn hóa – du lịch/ Festival… với sự tham gia rất hạn chế của du khách mà chủ yếu là các vị quan khách, người dân địa phương, người có trách nhiệm trong ngành du lịch và văn hóa, sau đó chuyển giao lại cho địa phương tự duy trì hoạt động. Tất cả đây là những hoạt động rất thiết thực để phát triển du lịch văn hóa, khai thác, đánh thức tiềm năng du lịch, góp phần phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của người dân ở các địa phương. Nhưng vấn đề là sau đó (sau lễ khai trương/ khánh thành) thì  duy trì/ nuôi dưỡng các hoạt động này như thế nào? Vì đây là hoạt động kinh tế du lịch văn hóa chứ không phải hoạt động phong trào hay kinh tế đơn thuần, hoạt động kinh doanh? Lĩnh vực này cũng được các anh/chị phóng viên báo/ đài luôn theo sát phản ánh với các tiêu đề: Thách thức bảo tồn và phát triển; Loay hoay phát triển làng du lịch/ Phát triển du lịch cộng đồng & câu chuyện quản lý; hay Thách thức du lịch biển… thông qua nhiều trường hợp cụ thể như: các ngôi nhà nằm trong không gian Làng bích họa Tam Thanh, sở hữu những bức họa đẹp phải đập bỏ vì lý do nhà xuống cấp; làng du lịch cộng đồng Trà Nhiêu (Duy Xuyên), Triêm Tây (Điện Bàn), Đại Bình (Nông Sơn), Mỹ Sơn (Duy Phú); chợ quê Tiên Phước; hay du lịch cộng đồng vùng núi phía Tây Quảng Nam; rồi tiềm năng du lịch bãi biển An Bàng, Hà My, biển Rạng… đều trong tình trạng rất khó hoạt động sau những ngày khai trương/ khánh thành. Ngoại trừ Hội An, My Sơn thì cũng đang chịu áp lực, bất cập về lượng khách du lịch quá tải (nhất là ở Hội An), trong khi cơ sở hạ tầng, điều kiện phục vụ nhu cầu của khách và những quy định về quản lý… không theo kịp, gây nhiều phiền toái, phản cảm không tốt. Thực ra vai trò của cơ quan nhà nước chỉ là hỗ trợ (về ý tưởng, thậm chí cả đầu tư ban đầu)…, quan trọng vẫn là người dân địa phương, hay doanh nghiệp? điều này đúng nhưng khi chúng ta có ý tưởng, đầu tư ban đầu nên chăng phải nghĩ đến tính khả thi, tính bền vững hay nói một cách khác cần phải suy nghĩ làm thế nào để những sản phẩm ý tưởng đó sống được? Thậm chí nhiều ý tưởng hay, phù hợp với tiềm năng vốn có nhưng sau đó công tác quảng bá kém thì sản phẩm đó cũng chết dần? Chắc hẳn vấn đề đặt ra ở đây là nguồn nhân lực cho bảo tồn và phát triển du lịch ở cấp huyện? hay trách nhiệm của các nhà doanh nghiệp, nhà đấu tư, người dân hoặc Hiệp hội du lịch?

Ngay bản thân ngành Du lịch, tại các doanh nghiêp dịch vụ cho du khách nói chung cũng đang thiếu hụt nguồn nhân lực trầm trọng, nhất là nguồn nhân lực được đào tạo (nhiều lao động không cần qua lớp đào tạo nghề, dù là ít ngày cũng dễ dàng được sử dụng). Có thể thấy sự bùng nổ của nhiều dự án đầu tư cơ sở dịch vụ du lịch tại Hội An và sắp tới ở vùng Nam Hội An và Đà Nẵng trong khi lao động đào tạo ra trường hàng năm không đáp ứng được nhu cầu thực tế đang dẫn đến vấn đề thiếu hụt lao động trầm trọng… Hiệp hội du lịch của tỉnh cũng không thể làm gì hơn ngoài việc than phiền về thực trạng và tình trạng cạnh tranh thiếu làng mạnh về lao động và giá cả dịch vụ đang nhiều bất cấp của các doanh nghiệp.

Trong khi đó, mối quan hệ gọi là “hữu cơ” giữa ngành Du lịch và bảo tồn di sản văn hóa cũng chưa hẳn là có sự gắn bó chặt chẽ, dù đang chung trong một sở (điều này kể cả ở cấp Bộ), nên có nhiều hội thảo của hai ngành này thường không cùng có nhau? và có câu chuyện một quan chức Hiệp hội du lịch Trung ương đề xuất: Nhờ du lịch mà giữ được di tích, nên các di tích phải trích tiền thu được từ vé tham quan của du khách để làm quỹ phát triển du lịch? Một số tổ chức hội xã hội và nghề nghiệp trong tỉnh liên quan đến bảo tồn và phát triển du lịch như: Hội Di sản văn hóa Quảng Nam ra đời nhiều năm nay nhưng không hoạt động được (gần như bị giải thể); Hội khoa học lịch sử sau nhiều năm chuẩn bị vẫn không thể thành lập được; và Quảng Nam cũng không thành lập được Hội Văn nghệ dân gian (Hội chuyên nghiên cứu, sưu tầm bảo tồn văn hóa – văn nghệ dân gian/ những giá trị văn hóa phi vật thể/ Folclore) thuộc Trung ương Hội như các tỉnh bạn mà là một chi Hội nằm trong Hội Văn học – Nghệ thuật của tỉnh (Hội văn nghệ dân gian không sáng tác mà nằm trong Hội Văn học – Nghệ thuật có hơi trái). Liên hiệp hội các hội khoa học – kỹ thuật của tỉnh Quảng Nam hoạt động rất mạnh nhưng hầu như lĩnh vực khoa học xã hội – nhân văn thì vắng bóng …

Nhìn lại năm du lịch di sản văn hóa – năm 2017, quả là có nhiều điều đáng vui mừng nhưng cũng nhiều nỗi lo về tính bền vững. Nên chăng, ngành Văn hóa – Du lịch cần có một chương trình nghiên cứu, đánh giá cụ thể và trên cơ sở đó có giải pháp/ biện pháp kịp thời, thích ứng để sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa và mục tiêu phát triển du lịch theo Nghị quyết 08 của tỉnh Đảng bộ Quảng Nam thực sự hiệu quả, vững bền.

N.C.T

Quang Nam Cultural Tourism 2017 – Still worries

by  Nguyen Chi Trung

2017 is the exciting year of Quang Nam tourism with many political and cultural events taking place in the province such as the 6th Quang Nam Heritage Festival, APEC, the Vietnam-Japan cultural exchange day. Through these events, Quang Nam tourism image has been advertised and introduced to many domestic and international tourists. Looking back on the year of cultural heritage tourism – 2017, there are many things to be happy but also many concerns about sustainability. It is necessary that the culture and tourism sector should have a specific program of research and assessment that are based on to have solutions and measures in time to preserve the cultural heritage and objectives in accordance with Resolution 08 of the Quang Nam Party Committee.