Du lịch qua những làng quê Đại Lộc

Khu vực Căn cứ Chín xã Sông Con ngày trước.

 Đại Lộc là vùng đất không chỉ có nhiều tài nguyên thiên nhiên trải dài theo hệ Vu Gia – Thu Bồn, nhiều loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo mà còn là nơi có những làng quê, làng nghề nổi tiếng. Đây là yếu tố quan trọng, góp phần tích cực cho phát triển các loại hình du lịch. Cha em thợ mộc Kim Bồng/ Muốn em có chồng về xứ Khánh Vân”.

        Làng hồ Khánh Vân (nay thuộc thôn Thanh Vân, xã Đại Cường) vốn là một trong những làng nghề nổi tiếng của đất Quảng. Tìm hiểu gia phả cho thấy, hầu hết các tộc họ của làng Khánh Vân đều có nguồn gốc từ Nghệ An, Thanh Hóa vào lập nghiệp từ sau cuộc Nam tiến của vua Lê Thánh Tông vào năm 1471. Những người thợ hồ Khánh Vân trước đó là nông dân, chuyên làm ruộng nhưng do đất ít hoặc không có đất nên họ phải tìm nghề khác để mưu sinh. Ở xóm Duy Vinh, hầu như nhà nào cũng có người làm thợ hồ. Theo thời gian, kinh nghiệm và kỹ xảo của nghề thợ hồ được truyền từ thế hệ này sang thế hệ sau, đời ông, truyền cho đời cha rồi đến đời con. Lớp thợ hồ của làng Khánh Vân ngày trước có nhiều người rất giỏi. Có người được “phong tước” như ông Chánh Nẫm (tên thật là Trương Bình, sinh năm 1901, mất năm 1979). “Chánh” ở đây không có nghĩa là Chánh tổng, Chánh bái nhưng cũng không kém oai, đó là Chánh thợ. Ông Nguyễn Xong rất giỏi trong việc đắp tứ linh (long, lân, qui, phụng) và pha màu. Những người lớn tuổi từng theo ông học nghề hoặc làm nghề cùng ông cho hay, thời đó, ai đắp tứ linh xong cũng phải rước ông tới để tô màu. Màu nước của ông rất sáng và sinh động không chê vào đâu được. Thợ hồ Khánh Vân tay bay, tay thước đi khắp nơi trong tỉnh, thậm chí ra tận kinh đô Huế xây dựng cung điện, lăng tẩm cho vua, quan nhà Nguyễn. Tay nghề của thợ hồ Khánh Vân trở nên nổi tiếng: Muốn cao thì phải gác chồ/ Muốn đẹp phải có thợ hồ Khánh Vân.

Theo các nhà nghiên cứu, nghề thợ hồ và nghề thợ mộc có mối quan hệ hữu cơ – một công trình xây dựng không thể tách rời hai nghề trên. Ngày trước, những người làm nghề mộc Kim Bồng (Hội An) thường hay lui đến làng Khánh Vân để cùng hợp tác xây dựng công trình. Hơn thế nữa, trai làng Khánh Vân vốn thật thà, chất phát nên được mọi người quý mến: “Nhất khoai lang đầu vồng/ Nhì có chồng Khánh Vân”;Cha em thợ mộc Kim Bồng/ Muốn em có chồng về xứ Khánh Vân”. Ngoài việc xây, tô, tay nghề thợ Khánh Vân ngày xưa còn được đánh giá cao qua việc lợp ngói đảo ngói (ngói cong, lợp âm dương). Họ lợp ngói rất điêu luyện, nhìn xuyên chiều này, nhìn xéo chiều kia, người ta cũng thấy mũi ngói xếp thành hàng thẳng tắp.

Cũng từ trong lao động “trai làng tài hoa, đất làng phú quý” này, người Khánh Vân đã góp phần hình thành nên giai điệu “Hò giã vôi” sôi động của đất Quảng: “Dô hò dô hụi! Hò dô hụi, xít hụi hò khoan! Hụi hò khoan bên nữ bên nam…Hụi hò khoan…”.

Gia Cốc – nơi hội tụ nhiều sĩ phu, nông dân yêu nước

Gia Cốc (Da Cốc) ra đời từ rất sớm. Sách Ô châu cận lục của Dương Văn An (viết năm 1553, hoàn thành năm 1555) đã nhắc tới Gia Cốc với vị thế là một trong 66 làng của huyện Điện Bàn, phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa. Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (thế kỷ XVIII) ghi chép: Xứ Quảng Nam có 2 phủ là Điện Bàn và Thăng Hoa với 11 huyện. Phủ Điện Bàn có 5 huyện gồm Hòa Vang, An Nông, Diên Khánh, Tân Phước và Phú Châu. Huyện An Nông có 2 tổng là tổng Phiếm Ái và An Sơn. Liễu Cốc (Gia Cốc) là một trong 14 xã thuộc tổng Phiếm Ái. Trước Cách mạng tháng Tám, làng Gia Cốc thuộc tổng Phú Mỹ, huyện Duy Xuyên, nay thuộc xã Đại Minh, huyện Đại Lộc.

Gia Cốc là quê hương của Tán tương quân vụ Trần Đỉnh (Tú Đỉnh, Tán Thừa), một “tướng điều” của Nghĩa hội Quảng Nam (1885 – 1887) do Nguyễn Duy Hiệu lãnh đạo. Tú Đỉnh được phân công lãnh đạo nghĩa quân cánh bắc (miền tây Đại Lộc, Hiên và Giằng), là người trực tiếp chỉ huy xây dựng căn cứ Chín xã Sông Con với động Hà Sống là tuyến phòng thủ quan trọng. Sông Con là căn cứ địa thứ hai của Nghĩa hội. Từ căn cứ quan trọng này, Nghĩa hội đã nhiều lần chặn được các cuộc tiến công của quân Pháp và Nam triều. Cũng từ nơi đây, dưới sự chỉ huy của Tán tương quân vụ Trần Đỉnh, nghĩa quân đã xuất kích, tổ chức những trận đánh Pháp oanh liệt như trận trên cánh đồng Gia Cốc (vùng B Đại Lộc bây giờ) và Trà Kiệu (Duy Xuyên), khiến giặc Pháp nhiều phen ăn ngủ không yên.

Gia Cốc từng là nơi hội tụ nhiều sĩ phu, nông dân yêu nước trong các phong trào Duy Tân và kháng thuế cự sưu. Không ai ngờ rằng, vùng quê nhỏ ẩn mình bên sông Vu Gia lại là nơi cụ Học Tổn, hơn 100 năm trước, là người đầu tiên noi gương chí sĩ Phan Châu Trinh cắt bỏ búi tóc để hưởng ứng phong trào Duy tân với chủ trương “Chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh”. Từ đây, phong trào cắt tóc ngắn đã lan rộng trong giới thanh niên, trí thức và nông dân Quảng Nam. Khi phong trào chống sưu, thuế năm 1908 nổ ra, các ông Trần Phước, Tú Cang, Ông Ích Mén đã dẫn đầu đoàn người đến Gia Cốc bắt Chánh Năm (Trần Quát) thả sông, kết liễu cuộc đời tên tay sai đắc lực và gian ác của thực dân Pháp.

Gia Cốc còn là quê hương của Trần Đình Tri, một trí thức yêu nước và cách mạng nổi tiếng, từng là nhà giáo, nhà báo. Trong Cách mạng Tháng Tám-1945, ông tham gia Ủy ban khởi nghĩa của thị xã Hội An và là người trực tiếp đến dinh Tỉnh trưởng Quảng Nam gặp Tôn Thất Giáng, đưa tối hậu thư buộc phải bàn giao chính quyền cho Mặt trận Việt Minh. Tháng 9-1945, Trần Đình Tri được cử làm Ủy viên Ủy ban Nhân dân Trung Bộ. Tháng 2-1946, ông được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Đà Nẵng. Tháng 12-1946, thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam sáp nhập thành một đơn vị hành chính, ông được cử làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến – Hành chính Quảng Nam – Đà Nẵng. Tháng 8-1949, ông được điều về công tác ở Liên khu V, làm Ủy viên, rồi Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến – Hành chính miền Nam Trung Bộ. Tại Đại hội Đảng bộ Liên khu V lần thứ II (8-1951), Trần Đình Tri được bầu làm Ủy viên dự khuyết Liên khu ủy V. Tập kết ra miền Bắc, Trần Đình Tri được phân công chuyên trách công tác Quốc hội. Ông là đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VI (34 năm), đã đảm đương nhiều chức trách: Ủy viên Thường vụ Quốc hội; Ủy viên Ủy ban Dân tộc trong Quốc hội; Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội; tham gia Ban biên soạn Hiến pháp khóa I và khóa VI…

Trong kháng chiến chống Mỹ, làng Gia Cốc được phân chia thành Đông Gia và Tây Gia thuộc xã Lộc Hòa (nay là xã Đại Minh), là vùng chiến sự ác liệt trước các trận càn quét của địch. Song, cơ quan đầu não của huyện Đại Lộc vẫn hoạt động bí mật giữa lòng địch, và Đông Gia là “căn cứ lõm” của cách mạng, là nơi làm việc của cơ quan Huyện ủy Đại Lộc giai đoạn 1970 – 1972.

 

“Địa linh ân tứ, Phú Xuân hương”

Theo Địa chí Quảng Nam- Đà Nẵng, trước Cách mạng Tháng Tám- 1945, làng Phú Xuân thuộc tổng Quảng Hòa, phủ Duy Xuyên; đến tháng 9-1946 thuộc huyện Đại Lộc. Làng Phú Xuân xưa gồm phần đất của các thôn: Phú Xuân (xã Đại Thắng) và Xuân Tây (xã Đại Tân) hiện nay.

Các bô lão địa phương kể lại, nguyên tên gọi của làng Phú Xuân là La Vân. Chuyện rằng, sau cuộc hôn nhân lịch sử giữa vua Chiêm Chế Mân và Huyền Trân công chúa (nhà Trần), những lưu dân Việt vùng Thanh – Nghệ có mặt ở vùng đất này để khai canh, lập làng. Tiền nhân đã ghép hai chữ: La – tên dòng sông đẹp của xứ Nghệ thân thương và Vân – mây thành ra tên làng. La Vân – áng mây đưa nỗi nhớ thương khôn nguôi của kẻ tha hương về với cố xứ…

Cái tên Phú Xuân, tương truyền chỉ ra đời vào những năm 20 của thế kỷ XIX, gắn với một vị đại thần triều Nguyễn – cụ Nguyễn Tường Vân (1774 – 1820). Ông nguyên là Binh Bộ Thượng thư (tương đương Bộ trưởng Quốc phòng ngày nay), tước Nhuận Trạch hầu. Thi hài cụ Nguyễn Tường Vân được triều đình đưa từ Bắc thành (thành Hà Nội) về an táng tại làng La Vân. Theo các vị cao niên, do tên làng trùng với tên của người quá cố nên La Vân được triều đình ân đổi thành Phú Xuân. Điều này thể hiện ở hai câu đối lưu truyền qua nhiều thế hệ: Nhân kiệt khai cơ, La Vân xã/ Địa linh ân tứ, Phú Xuân hương.Tạm dịch nghĩa: Bởi lòng hào kiệt của con người đã khai khẩn đất đai lập nên xã La Vân;/ Nhờ cuộc đất linh hiển mà được vua ban ơn đổi tên thành làng Phú Xuân.

La Vân – Phú Xuân, mảnh đất được bồi tụ bởi phù sa của dòng sông lớn Thu Bồn còn là nơi chôn nhau, cắt rốn của một nhà thơ có tên tuổi trên thi đàn nước nhà trong thế kỷ XX – Trinh Đường. Trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông là thành viên Ban Chỉ huy khởi nghĩa giành chính quyền của Tổng Quảng Hòa và được cử giữ chức Chủ tịch Ủy ban Cách mạng tổng này. Trinh Đường là một trong những người sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957).

Làng Phú Xuân thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước là “địa chỉ đỏ”. Nơi đây có Địa đạo Phú An- Phú Xuân nổi tiếng (di tích lịch sử quốc gia), là nơi làm việc của Đặc khu ủy Quảng Đà, Khu ủy 5, của Mặt trận 4; nơi đặt sở chỉ huy tiền phương của bộ đội ta tấn công quân thù ở các căn cứ An Hòa, Đức Dục…

K.T