Nghĩ về sự biến đổi văn hóa trang phục của cư dân bản địa miền núi hiện nay

Xu hướng nghiên cứu biến đổi văn hóa

Trang phục của các thiếu nữ Cor trong lễ hội. Ảnh: Tấn Vịnh

Nghiên cứu biến đổi văn hóa đang là đề tài “nóng” của các nhà nghiên cứu nhằm mục đích thông qua nghiên cứu những biến chuyển làm thay đổi văn hóa để có những giải pháp, phương thức bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa cổ truyền trong cuộc sống hiện tại cũng như định hướng bảo tồn các giá trị văn hóa đó trong tương lai. Văn hóa biến đổi thường xuyên, trong đó có sự biến đổi theo xu hướng tiếp biến văn hóa – không những vẫn bảo tồn được giá trị bản sắc của văn hóa mà còn làm cho những giá trị văn hóa tương thích, phong phú hơn trong bối cảnh văn hóa xã hội mới, mặt khác có những biến đổi văn hóa ngày càng xa “nguyên gốc”, ngày càng có nguy cơ phai nhạt dần cái bản sắc dẫn đến “tha hóa” các giá trị văn hóa “gốc”. Những công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu văn hóa nhân loại học (cultural anthropology) luôn chỉ ra vấn đề rằng không có nền văn hóa nào giữ được một cách hoàn toàn nguyên vẹn những đặc tính của văn hóa qua thời gian.

Nếu nhìn nhận một cách tổng quát thì văn hóa biểu hiện một cách trực tiếp qua hoạt động sống hàng ngày. Văn hóa là lối sống (life style) của một cộng đồng người trong một khu vực địa lý nào đó hay rộng hơn là của một dân tộc trong một quốc gia. Trong văn hóa lối sống của một cá nhân hay cộng đồng có việc ăn, mặc, ở, đi lại, tiếp xúc… và trong các giá trị văn hóa truyền thống thể hiện bản sắc tộc người thì các giá trị văn hóa vật chất là tiêu biểu nhất. Trong bối cảnh “toàn cầu hóa văn hóa”, thời kỳ mà tốc độ giao lưu, tiếp xúc văn hóa giữa các nền văn hóa đang diễn ra mạnh mẽ, nhanh chóng thì nguy cơ “cào bằng” sự khác biệt, độc đáo, các đặc trưng văn hóa giữa các tộc người ở các thể dạng vật chất như ăn, mặc, ở… ngày càng được đặt ra cấp thiết nhằm mục đích bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống.

Văn hóa trang phục truyền thống đang mai một dần

Nhà nghiên cứu Lê Sỹ Giáo trong công trình “Biến đổi văn hóa của cư dân Tày – Thái Việt Nam ở ven sông Hồng trong bối cảnh toàn cầu hóa” (nguồn: Laocai.gov.vn 2013) đã chỉ rõ “Ở Việt Nam đích nhắm tới của các cộng đồng thiểu số là các giá trị văn hóa người Kinh. Theo đó, các giá trị văn hóa tộc người tồn tại đã hàng nghìn năm đang có sự biến đổi với tốc độ ngày càng nhanh chóng hơn”.

Ở tỉnh ta, địa bàn miền núi phía Tây là nơi cư trú lâu đời của các dân tộc thiểu số như dân tộc Cor, Xơ Đăng, Ca Dong, Mơ Nâm, Giẻ Triêng, Bh’noong, Ve, Ta Riềng, Cơ Tu… với những nét đẹp văn hóa giàu bản sắc văn hóa tộc người. Mỗi một tộc người đều có văn hóa lối sống đặc trưng, thể hiện sự khác biệt văn hóa (ăn, mặc, ở, dụng cụ săn bắn, trồng tỉa, kiểu thức xây dựng chốn ở, chốn sinh hoạt cộng đồng (nhà làng, nhà ở, nhà mồ, nhà kho), lễ hội…). Trong văn hóa trang phục, mỗi dân tộc đều có các bộ trang phục nam, nữ trong sinh hoạt thường ngày và bộ trang phục nam, nữ trong lễ hội. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa các dân tộc bản địa miền núi cho rằng – trước đây vài chục năm – có thể nhận diện tộc người qua trang phục nam, nữ ngày thường. Hiện  nay chỉ có thể nhận diện sắc thái văn hóa tộc người qua trang phục trong các lễ hội. Sự biến đổi cách mặc diễn biến mạnh mẽ ở lớp người trẻ. Qua tiếp xúc với một nhóm các em sinh viên trẻ là con em đồng bào miền núi có em tự thú rằng từ khi xuống học ở thành phố các em hầu như “đoạn tuyệt” hẳn với trang phục cổ truyền của tộc người mình. Đi tìm căn nguyên của sự “phai nhạt” văn hóa mặc ở giới trẻ có vô số lý do: nào là ăn mặc theo người Kinh thì tiện dụng hơn vì đồ may sẵn, giá rẻ lại “tự tin” hòa nhập với cộng đồng, tránh bị dòm ngó, chỉ chỏ… Trong những người trẻ có người vốn rất tự hào khi mặc những trang phục truyền thống của dân tộc mình nhưng không “kiên trì” bảo lưu nét đặc sắc ấy mãi được bởi “chẳng có bạn nào cùng mặc như mình, lâu ngày thì nản, chỉ mặc khi có dịp văn nghệ hay về làng tham gia lễ hội”.

Nhìn rộng hơn, sự biến đổi theo xu hướng tiêu cực trong văn hóa mặc của cư dân bản địa miền núi có căn nguyên chính là quá trình biến đổi xã hội trong đó có sự biến đổi các khuôn mẫu của các hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội, hệ thống phân tầng xã hội… Văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội vì thế văn hóa cũng chuyển đổi theo. Sự biến đổi văn hóa vừa mang tính cá nhân vừa mang tính cộng đồng dựa trên sự biến đổi xã hội và cả sự vận động tự thân – sự vận động bên trong của văn hóa. Như vậy, khi cuộc sống thay đổi (có sự thay đổi, dịch chuyển kiểu lao động mưu sinh theo lối truyền thống, tập tục, lệ tục truyền thống, quan hệ xã hội truyền thống… kéo theo sự phân tầng xã hội theo thu nhập, mức độ tiếp xúc với nền văn hóa khác biệt được cộng đồng “ngộ nhận” có vai trò “vượt trội” hơn mà cụ thể là văn hóa người Kinh trong bối cảnh toàn cầu hóa…) thì văn hóa cổ truyền đối mặt với thách thức biến đổi theo hướng tiêu cực nếu như mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng không ý thức mạnh mẽ về bản sắc văn hóa tộc người và có sự “truyền dẫn xã hội” (social transmission) về “sự nhận thức nguồn gốc văn hóa – xã hội của con người cá nhân” (F. Boas (1940)).

Trang phục của các thiếu nữ Ca Dong. Ảnh: Tấn Vịnh

Vài suy nghĩ về bảo tồn

Trong hiện tại đã có những dự án bảo tồn trang phục cổ các dân tộc trước nguy cơ mai một dần trong đời sống đương đại. Một trong những đề xuất bảo tồn được cộng đồng quan tâm là đưa việc nhận thức và thực hành văn hóa trang phục cổ truyền các dân tộc vào trường học với những quy định, quy ước “mềm” nhằm mục đích cho giới trẻ hiểu (nhận thức được các giá trị văn hóa độc đáo của trang phục) và yêu thích (chuyển đổi nhận thức thẩm mỹ) trang phục dân tộc mình, hình thành thói quen trong hành vi “thực hành văn hóa” mặc. Đây là việc lẽ ra ngành văn hóa, ngành giáo dục và chính quyền các địa phương có nhiệm vụ bảo tồn văn hóa đã phải làm từ rất sớm nhưng vẫn không muộn. Cùng với thói quen mặc trang phục cổ truyền được “phục dựng” ở các trường học, trường nội trú học sinh các dân tộc thiểu số là các sinh hoạt văn hóa cổ truyền (các lễ hội, các sự kiện văn hóa, các hội thi, hội diễn…) thậm chí những sinh hoạt thường ngày mỗi cộng đồng nên có hình thức khuyến khích đồng bào mình mặc trang phục truyền thống trong các sinh hoạt làng, bản, nóc thông qua các quy ước văn hóa, các luật tục mới. Tất nhiên, không thể không chú trọng đến những bối cảnh, những nhu cầu tiện ích mới, chẳng hạn, bộ trang phục nam có thể mặc áo thổ cẩm, có hoa văn dân tộc và thay vì đóng khố có thể mặc quần vải hai ống dài (người Kinh) với màu sắc tương thích với áo trong những sinh hoạt văn hóa ở đô thị đồng bằng. Việc phân định giữ cái nào là “hồn cốt” và cái nào là “tiếp biến” cho phù hợp là công việc của các nhà quản lý, bảo tồn.

Điều căn cốt vẫn là tiến trình vận động tự thân của văn hóa trong đó có sự nhận thức của mỗi cộng đồng, mỗi cá nhân của nền văn hóa đó. Chỉ có cư dân bản địa mới – trước hết là những người tập hợp được sức mạnh của cộng đồng và từ đó tác động mạnh vào nhận thức mỗi cá nhân về việc nhận diện cái hay, cái đẹp, cái đặc sắc của trang phục truyền thống dân tộc mình rồi từ đó mới “tự hào” trình diễn, phô diễn vẻ đẹp khác biệt ấy trong bối cảnh toàn cầu hóa văn hóa hiện nay.

P.T.Đ