Lê Trí Viễn – Từ góc nhìn văn hóa

Kẻ sĩ Bắc Hà nhằm để tôn vinh những người có học, những trí thức biết đem trí tuệ ra giúp đời, giúp nước. Cũng xuất phát từ truyền thống đó, theo chân những lưu dân trên đường mở cõi về phương Nam, có thêm danh sĩ đất Quảng nhằm thể hiện bản lĩnh văn hóa của con người xứ Quảng, đó không chỉ là con người có học, con người suy tưởng mà còn là con người hành động suốt cả cuộc đời: từ nhỏ đã nỗ lực vượt khó để học tập, khi trưởng thành từ chối vinh hoa phú quý, hoạt động yêu nước (Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng…), thậm chí đến cuối đời, việc lựa chọn cái chết cũng là hành động cuối cùng của người anh hùng để nhằm cứu lấy thuộc hạ, đồng đội và nhân dân (Hoàng Diệu, Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến…). Cái bản lĩnh văn hóa ấy đã trở thành truyền thống văn hóa lâu đời, được khẳng định từ những trào lưu yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trở thành mạch nguồn luân lưu trong thế hệ những trí thức tham gia hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, thể hiện rõ trong tình thế đất nước có ngoại xâm, người có văn hóa phải là người yêu nước, thông qua hành động chống ngoại xâm.                             

Như nhiều tỉnh trên dải đất miền Trung, Quảng Nam là đất nghèo nhưng có truyền thống hiếu học, thấm đẫm trong tư thế của người “học trò trong Quảng ra thi…”, cũng bắt nguồn từ vùng văn hóa hiếu học Thanh – Nghệ – Tĩnh, nhưng không phải là đất của “ông đồ xứ Nghệ”. Xứ Quảng có nhiều tấm gương bằng con đường tự học, trở thành những học giả, những nhà khoa học tài danh như Phan Khôi, Nam Trân, Hoàng Tụy, Huỳnh Lý, Lê Đình Kỵ, Bùi Giáng… trong đó có cả Giáo sư – nhà giáo nhân dân Lê Trí Viễn (1918-1912). Trong công trình nghiên cứu Từ bục giảng đến văn đàn (Nxb Trẻ 2016), PGS.TS Trần Hữu Tá, một trong những học trò xuất sắc của ông đã nói khá kỹ về người thầy kính yêu của mình, từ một học trò nghèo xứ Quảng, “chỉ được học hết bậc Cao đẳng tiểu học (…). Tự học và đỗ Tú tài triết học (1945). Suốt đời ông là một quá trình công phu tự học cần mẫn, nghiêm túc” [tr.152], để trở thành thầy giáo của các cấp học lần lượt từ tiểu học (1939), trung học (thời kháng chiến chống Pháp), đại học (từ 1958) và sau đại học (từ 1973, trong đó có đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ); “vừa góp phần đào tạo không biết bao nhiêu công dân ưu tú trong đó có những trí thức lớn như Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Đức Nam, Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Đình Tứ… vừa để lại cho đời một lượng công trình thật đáng nể cả về số lượng và chất lượng”[tr.154], được Nhà nước phong chức danh Giáo sư (1980) và danh hiệu Nhà giáo nhân dân (1990). Và, ông trở thành một trong những người tiêu biểu cho người trí thức kiểu mới: những con người tự trí thức hóa mình bằng con đường nỗ lực tự học.

Giáo sư Lê Trí Viễn (giữa) và những học trò cũ ở Tiên Phước. Ảnh: TL

Tất nhiên, không phải người nào thành đạt trong đời cũng đều phải kinh qua trường lớp. Nhưng những trải nghiệm ở trường đời có thể đào tạo con người thành đạt ở hầu hết các lĩnh vực chuyên môn của đời sống, nhưng để trở thành một trí thức, một nhà khoa học hàng đầu của đất nước, thì quả là khó khăn hơn gấp nhiều lần, nếu không muốn nói là không tưởng đối với thời đại hiện nay. Vì vậy, nếu không có một khát vọng cháy bỏng, một tấm lòng yêu nước – một đất nước lạc hậu, nghèo đói, tối tăm trong đêm đen nô lệ, luôn thúc giục khôn nguôi, đưa đến sự khao khát gần như bản năng, vô thức và sự nỗ lực kiên trì không biết mệt mỏi của con người xứ Quảng là mong muốn chiếm lĩnh những đỉnh cao tri thức của văn minh nhân loại để góp phần canh tân đất nước. Điều đó đã đưa Lê Trí Viễn đứng vào hàng ngũ những nhà văn hóa/ trí thức đích thực của đất nước một thời và những thời sau không có sự lặp lại: người trí thức tự đào tạo. Thế hệ trẻ bây giờ thật khó hình dung những khó khăn gian khổ, thiếu thốn mọi bề của những ngôi trường trong kháng chiến, sự thiếu đói quanh năm trong những lớp học vùng sơ tán, người thầy trở thành người cha tinh thần chăm lo từ cuộc sống đến học hành, động viên đồng nghiệp và học trò giữ được chất lượng dạy và học. Rồi cùng các đồng nghiệp xây dựng chương trình đào tạo đại học cho nền giáo dục mới của một đất nước dân chủ cộng hòa, trong hoàn cảnh kháng chiến gian khổ, khi còn ở Liên khu V, tài liệu sách vở hết sức hiếm hoi, ông đã hoàn thành những bộ giáo trình đầu tiên, trong đó có Việt Nam văn học sử thời Lê mạt, Nguyễn sơ (1951) được coi là công trình văn học sử đầu tiên được viết theo quan điểm macxit.

Sau cú huých đầu tiên về lịch sử văn học ấy, Lê Trí Viễn tiếp tục có những khám phá mới mẻ về những di sản văn học của cha ông. Bên cạnh công việc giảng dạy và công tác quản lý, trong suốt cả cuộc đời ông có đến 46 công trình nghiên cứu được công bố, trong đó chủ biên và cộng tác chiếm phân nửa. Bộ Lê Trí Viễn toàn tập (Nxb Giáo dục 2006), gồm 7 cuốn, non 6.000 trang khổ lớn là tập đại thành của cả một sự nghiệp đồ sộ mà ông đã miệt mài không biết mệt mỏi, trong đó không chỉ có những công trình nghiên cứu mà còn có cả sáng tác. Và ở cả hai lĩnh vực văn chương, lý trí và tưởng tượng, ông đều thể hiện sự chuẩn mực của một nhà sư phạm mẫu mực, thể hiện sự tinh tế và tài hoa trong cảm thụ và phân tích tác phẩm. Những công trình văn học sử có giá trị học thuật sâu sắc, giàu chất lý luận khó có sự thay thế như Một số vấn đề về văn học Việt Nam (viết khi đang làm chuyên gia ở Đại học Bắc Kinh, Trung Quốc, 1961), Lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ  X – giữa thế kỷ XIX (1985), Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam (1996), Quy luật phát triển của lịch sử văn học Việt Nam (1998)…, trong đó phần chuyên sâu, thể hiện tư cách một chuyên gia lớn của ông là về các tác giả như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương… Những công trình in đậm dấu ấn cá nhân, thể hiện phong cách tinh tế của ông như  Những bài giảng văn ở đại học (1982), Bình thơ xuân (1986), Tìm hương trong văn Hồ Chí Minh (1986), Đến với thơ hay (1997)…

Lê Trí Viễn đặt chân vào con đường văn chương chữ nghĩa đầu tiên bằng những bài thơ khi còn là anh giáo làng, dạy bậc tiểu học ở Trường tiểu học Bảo An (Điện Quang, Điện Bàn), rồi khẳng định ngòi bút bằng những truyện ngắn bình dị, giàu tính hiện thực, khi dạy các trường trung học kháng chiến (ở Quảng Ngãi, Thừa Thiên, Quảng Bình, Hà Tĩnh). Giờ đây, nhờ có Lê Trí Viễn toàn tập mà ta có thể đọc lại được những truyện ngắn viết về đời sống kháng chiến như Trương, Thương nữ, Bây giờ, Cái áo lót và cái áo lụa, Núi che mặt trời, Trường học Lương Sơn Bạc,…từ cảm quan hiện thực đến bố cục, kết cấu, nhân vật và giọng điệu đều không thua kém truyện ngắn của bất kỳ cây bút chuyên nghiệp nào cùng thời, cùng vùng văn hóa – thẩm mỹ. Tình sương (2001) là tập thơ tuyển chọn 99 bài thơ ông làm trong hơn 60 năm, trong đó có 14 bài sáng tác trước năm 1945 và 85 bài sau 1945. Khác với những đột phá trong nghiên cứu, thơ ông bình dị, đằm sâu nghĩa tình, bắt nguồn từ truyền thống làng quê văn hiến, văn hóa sông bãi ruộng đồng, mưa nắng trăng sao thơm mùi rơm rạ quê ông: Kháng chiến con đi khắp nước/ Xóm nhỏ quê nhà đêm ấy mới về thăm/ Con mới hay mẹ ra đi năm trước/ Ngoảnh lại ngọn tre già lơ lửng một vừng trăng (Về thăm nhà vùng du kích). Hơn nửa thế kỷ sau, tình cảm đối với quê mẹ vẫn còn nguyên vẹn, cảm xúc vẫn nồng nàn, nghĩa tình làng xóm vẫn tươi nguyên, nhưng cảnh cũ người xưa đã lắm đổi thay, khiến ông không khỏi bồi hồi trong chuyến đưa cả gia đình về thăm quê lần cuối năm ấy: Có quê mà chẳng có nhà/ Đành đem giấc ngủ gửi bà con thôi/ Nửa đêm sực tỉnh bồi hồi/ Mẹ ơi, con đứt nửa người, mẹ ơi! Ngoài sáng tác, ông còn dịch các tác phẩm như Les misérables (Victor Hugo), César Birotteau (Honoré de Balzac), La divine comédie (Dante Alighieri) từ tiếng Pháp, Lỗ Tấn và các sáng tác bằng chữ Hán của các nhà văn Việt Nam như Bùi Huy Bích, Phan Khôi…

Đọc Lê Trí Viễn, cả sáng tác lẫn nghiên cứu và dịch thuật, đều có thể nhận ra ở ông hoàn toàn ứng với nguyên lý “văn tức là người”. Ở con người điềm đạm, tự tin nhưng đầy khiêm tốn, thể hiện một nhân cách văn hóa trí thức, dễ nhận ra bên trong luôn chứa đựng một tâm hồn nhân ái nhân văn, có niềm tin ấm áp đối với con người. Không chỉ là học trò, mà cả những ai có cơ duyên hạnh ngộ với ông đều kính trọng, yêu quý, ngưỡng vọng con người, quan hệ ứng xử, tri thức uyên bác và bản lĩnh văn hóa ở ông.

                                                                                                      P.P.P