Kỷ niệm 60 năm Ngày mở đường Trường Sơn – đường Hồ Chí Minh (19.5.1959 -19.5.2019): Quảng Nam với tuyến đường Trường Sơn – đường Hồ Chí Minh huyền thoại

Để tạo bước ngoặc cho phong trào cách mạng miền Nam, tháng 01.1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở Hội nghị lần thứ 15,

Nữ TNXP Quảng Nam trên đường Trường Sơn.

xác định “Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là giải phóng miền Nam, phương pháp của cách mạng và phương thức đấu tranh là dùng bạo lực cách mạng, từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, đánh đổ quyền thống trị của đế quốc, phong kiến; trước mắt là đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm tay sai của đế quốc Mỹ, thiết lập chính quyền cách mạng”.

Thực hiện Nghị quyết 15 của Đảng, ngày 19.5.1959, Thường trực Tổng Quân ủy chính thức giao nhiệm vụ cho “Đoàn công tác Quân sự đặc biệt” mở đường Trường Sơn, chi viện cho chiến trường miền Nam, Đoàn được mang phiên hiệu Đoàn 559. Đầu tháng 6.1959, Đoàn 559 tổ chức đội khảo sát mở tuyến vào Nam bắt đầu từ Khe Hó (nằm giữa một thung lũng ở phía Tây Nam Vĩnh Linh), sau đó vạch tuyến phát triển về hướng Tây Nam, điểm đặt trạm cuối cùng là Pa Lin, kế cận trạm tiếp nhận của Khu V. Ngày 13.8.1959, chuyến hàng đầu tiên chính thức vượt Trường Sơn. Chuyến hàng đầu tiên tuy ít ỏi, song đã làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ Khu V, thể hiện quyết tâm của Đảng và tình cảm của Bác Hồ, của quân, dân miền Bắc gửi tới đồng bào, chiến sĩ miền Nam.

Đến năm 1960, địch phát hiện tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn của ta, chúng tập trung lực lượng và phương tiện quân sự đánh phá và chia cắt hết sức quyết liệt. Đoàn 559 kiến nghị Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng cho mở đường bộ về phía Tây, qua nước bạn Lào, rồi rẽ về phía Tây Quảng Nam lên Kon Tum. Đầu năm 1961, đường Trường Sơn chính thức lật cánh sang phía Tây. Trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, tại thôn A Sò, xã A Nông, huyện Tây Giang là nơi khởi đầu cho tuyến đường Trường Sơn từ nước bạn Lào đi vào địa bàn tỉnh Quảng Nam.

Bước sang năm 1965, do nhu cầu chiến trường ngày càng được mở rộng, bộ đội Trường Sơn tiếp tục mở đường vượt Bến Giằng qua Nam Giang. Đảng bộ và nhân dân huyện Nam Giang thực hiện rất khẩn trương với một quyết tâm: Tất cả để đánh Mỹ, tất cả để thắng Mỹ; giữ vững mạch máu giao thông chiến lược của cách mạng; thông đường, thông tuyến như giữ hơi thở của mình. Sau một thời gian, bộ đội cùng với lực lượng thanh niên xung phong tiếp tục mở đường, lấp hố bom đảm bảo cho xe thông tuyến từ Thạnh Mỹ lên Cà Dy (Nam Giang) đi qua 5 xã, thị trấn của Phước Sơn: Phước Xuân, Phước Mỹ, Phước Đức, Phước Năng và thị trấn Khâm Đức rồi mở ra cửa ngõ lên Tây Nguyên tại Đắk Lây (tỉnh Kon Tum). Các trung đoàn vận chuyển Trung Sơn, Nam Sơn và lực lượng thanh niên xung phong của tỉnh Quảng Nam và Đặc khu Quảng Đà giữ vai trò nòng cốt trong vận chuyển hàng hóa, vũ khí phục vụ cho chiến trường.

Với khẩu hiệu “Đóng cửa nhà, trẻ già lên đường vận chuyển”, từ tháng 12.1967 đến tháng 3.1968, toàn huyện Nam Giang đã huy động trên 790 dân công phục vụ thường trực trên các tuyến đường; huy động trên 71.100 lượt ngày công phục vụ tại chỗ, trong đó có 196 nam nữ thanh niên tình nguyện lên đường làm nghĩa vụ để bổ sung cho đoàn Trung Sơn, bộ đội địa phương huyện và ngành mậu dịch tỉnh. Tại Đông Giang, nhân dân trong huyện túc trực trên các tuyến hành lang đường Trường Sơn, nhất là các cánh Trung, cánh Bắc và Đầu Gò (huyện Đại Lộc). Huyện ủy tập trung lực lượng chỉ đạo công tác. Hầu hết nhân dân từ thiếu niên, nhi đồng đến phụ nữ, lão thành, hễ ai còn sức đều tham gia dân công phục vụ cuộc tiến công nổi dậy. Tại Phước Sơn, với khí thế cách mạng sôi sục“cả huyện ra trận, cả nhà ra trận”, hàng ngàn già trẻ, gái trai nô nức thi đua vận chuyển súng, đạn, lương thực phục vụ cho chiến trường. Quân và dân các huyện miền núi Quảng Nam, Đặc khu Quảng Đà đã đóng góp sức người, sức của, tiếp lương, tải đạn cho tiền tuyến góp phần xứng đáng làm nên thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân – 1968. Tháng 5.1968, ta tiến công tiêu diệt cụm cứ điểm Khâm Đức – Ngok Ta Vak, khai thông tuyến đường Trường Sơn từ Nam Giang lên Khâm Đức nối với Đắk Lây (Kon Tum) qua nước bạn Lào, đồng thời mở ra con đường vận tải cơ giới xuống vùng giáp ranh đồng bằng, tạo thời cơ để quân và dân ta đẩy mạnh chiến dịch Thu năm 1968 (Kế hoạch X2) trên toàn chiến trường Khu V giành thắng lợi.

Ngày 27.01.1973 Hiệp định Paris được ký kết, tạo ra tiền đề vững chắc để quân và dân ta tiến lên thực hiện di nguyện của Bác Hồ “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Tuy nhiên, với âm mưu phá hoại Hiệp định Pa-ri, quân ngụy đưa lực lượng cơ động vào thực hiện âm mưu lấn chiếm, “tràn ngập lãnh thổ”, phân tuyến, chia vùng, giành dân, lấn đất, xóa thế “da báo”, đẩy lực lượng cách mạng, nhất là lực lượng chủ lực quân giải phóng ra khỏi vùng đồng bằng và đô thị. Ở Quảng Đà, Mỹ – ngụy từng bước lấn chiếm lại vùng giải phóng ở phía Tây và ra sức củng cố chi khu quân sự Thượng Đức trở thành tiền đồn vững chắc để bảo vệ căn cứ liên hợp quân sự Đà Nẵng và khống chế tuyến đường 14 của ta ở phía Tây Quảng Đà. Để khai thông nút chặn này, Bộ Tư lệnh Quân khu V quyết định mở Chiến dịch Thượng Đức. Vì vậy cần mở đường từ tuyến đường Hồ Chí Minh xuống Thượng Đức để vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược. Chấp hành sự chỉ đạo của Đặc khu ủy, Huyện ủy các huyện Nam Giang, Đông Giang đã huy động hơn 1.500 dân công, chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số sẵn sàng cùng lực lượng công binh Sư đoàn 2, Sư đoàn 304 ngày đêm phá đá, mở đường phục vụ chiến dịch. Sau hơn một tháng phá đá, mở đường, với tinh thần khẩn trương, không kể ngày đêm, đến ngày 20.7.1974, ta đã mở được một hệ thống đường dài hơn 100km đường mới, từ Prao về bến Hiên, từ Thạnh Mỹ đi cầu Hội Khách, từ bến Hiên đi An Điềm tỏa ra xung quanh đưa lực lượng vào bao vây Thượng Đức, đảm bảo cho chiến dịch giành thắng lợi, thể hiện sự cố gắng vượt bậc của các lực lượng công binh, trong đó có phần đóng góp không nhỏ của quân, dân Quảng Đà.

Sau chiến thắng Thượng Đức, quốc lộ 14 giáp với đường Hồ Chí Minh được khai thông. Trên chiến trường Quảng Nam, Quảng Đà, những ngày cuối năm 1974 đầu năm 1975, trong không khí chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công nổi dậy, nhiều con đường nối giữa đường Trường Sơn tỏa về các huyện đồng bằng và thành phố Đà Nẵng được xây dựng và hoàn thiện. Những ngày này, ở núi rừng các huyện miền núi Quảng Nam, Quảng Đà lại bùng lên sinh khí mới, nhộn nhịp khác thường. Trên các trục đường chiến lược, đặc biệt là đường Trường Sơn và các đoạn đường từ Thạnh Mỹ đi Đại Lộc, Hòa Vang về Đà Nẵng, rồi đường Quyết Thắng chạy từ Prao (nối với đường Hồ Chí Minh) xuống đến dốc Kiền tiến về Đà Nẵng… người người qua lại, xe cộ tấp nập. Quân và dân các huyện miền núi Quảng Nam, Quảng Đà tích cực vận chuyển vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm cho chiến trường. Ngày 24.3.1975, thị xã Tam Kỳ được giải phóng, ngày 29.3.1975,

Vượt ngầm chở hàng phục vụ chiến trường

thành phố Đà Nẵng được giải phóng. Theo sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Khu ủy V, quân và dân tỉnh Quảng Nam, Quảng Đà một mặt ổn định tình hình, mặt khác ra sức chi viện sức người, sức của cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Thành phố Đà Nẵng huy động 300 xe các loại để đưa bộ đội, (ngày 27.01.1973) chuyển vũ khí vào Nam phục vụ cho chiến dịch. Những binh đoàn từ miền Bắc ngày đêm di chuyển qua địa bàn Đà Nẵng, Quảng Nam để đi về phía Nam đã được chính quyền và nhân dân tiếp thêm lương thực, thực phẩm, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Với những đóng góp của mình, lực lượng TNXP Quảng Nam được Đảng, Nhà nước trao tặng nhiều huân, huy chương, một số tập thể và cá nhân đã được tặng thưởng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang. Đặc biệt, đến nay, tuyến đường Trường Sơn – đường Hồ Chí Minh huyền thoại đi qua các huyện miền núi của Quảng Nam đã có 3 địa điểm được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia đặc biệt đó là: Di tích bến Giằng (huyện Nam Giang), Di tích Khâm Đức – Chỉ huy sở tiền phương Bộ Tư lệnh Trường Sơn (huyện Phước Sơn) và Đèo Bù Lạch, thuộc xã A Nông, huyện Tây Giang.

Đ.K