* Kỷ niệm 44 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30.4.1975 – 30.4.2019): Nhân tố con người trong chiến tranh Việt Nam qua một vài đánh giá của người Mỹ

Viết về cuộc chiến tranh Việt Nam, James G. Zumwalt, một người từng tham chiến ở miền Nam và là con trai của Đô đốc Chỉ huy trưởng lực lượng hải quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, tác giả cuốn Chân trần chí thép đã nhận xét rằng: “Có lẽ sai lầm lớn nhất của chúng ta tại Việt Nam là đã không nhận ra rằng chúng ta đang chiến đấu với một thế hệ vĩ đại nhất của đất nước này – một thế hệ với quyết tâm thống nhất và duy trì sự tồn tại của dân tộc sẵn sàng đứng lên đánh đuổi hết quân ngoại xâm này đến quân ngoại xâm khác”. James G. Zumwalt đã nói đúng, đó thật sự là “một thế hệ vĩ đại”. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là cuộc đối đầu chưa từng có trong lịch sử của dân tộc Việt Nam và xét cho cùng đó là sự thắng lợi của nhân tố con người trước sức mạnh kinh tế, kỹ thuật của một siêu cường. Trong bài viết nhỏ này chỉ xin phân tích một khía cạnh về nhân tố con người từ phía cách mạng.

Gabriel Kolko – một vị giáo sư người Mỹ từ năm 1964 đã bỏ hơn 10 năm theo dõi cuộc chiến tranh Việt Nam và đã xuất bản cuốn Giải phẫu một cuộc chiến tranh. Đây là cuốn sách phân tích rất cặn kẽ cuộc chiến Việt Nam dưới tất cả các góc độ quân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, ngoại giao… Phân tích những nguyên nhân dẫn đến thắng lợi của cách mạng, Gabriel Kolko đã đánh giá cao nhân tố con người, bao gồm yếu tố đạo đức cách mạng, công tác chính trị tư tưởng, năng lực lãnh đạo của bộ thống soái tối cao của cách mạng, vai trò của đội ngũ cán bộ của đảng, gồm cả cán bộ nhân dân chính và cán bộ quân sự… Trước hết, Gabriel Kolko đánh giá cao vai trò của đạo đức mà Đảng CSVN kiên trì xây dựng trong hàng ngũ của mình:“Chỉ có Đảng CSVN mới luôn luôn nhấn mạnh một cách sâu sắc những tiêu chuẩn đạo đức con người và trách nhiệm của cá nhân và của đảng đối với nhau”;“Đạo đức cá nhân đối với một cán bộ của Đảng không phải là điều ngẫu nhiên cho công việc anh ta mà là một tiền đề cho thắng lợi, và anh ta khó thành công trong việc kêu gọi kẻ khác mạo hiểm và hy sinh trừ phi anh ta đi trước bằng chính gương của mình. Công việc của Đảng trước hết là dựa vào những hy sinh, nhường nhịn cá nhân”. Gabriel Kolko cũng ngạc nhiên về tính mẫu mực, sự hy sinh cá nhân cho quyền lợi của tổ chức, của Cách mạng, ông nhận thấy ngay trong hàng ngũ Bộ Chính trị “nhìn chung họ là những người hết sức khiêm tốn, nhiều người rất tự hào với tình trạng không tên tuổi của mình”. Đánh giá về yếu tố đạo đức của những người cách mạng trong suốt cuộc chiến tranh Gabriel Kolko đã đưa ra một nhận định xác đáng: “Nguồn sức mạnh quan trọng nhất của Đảng trong suốt ba mươi năm qua là quan niệm của họ về một đạo đức xã hội chủ nghĩa…”, “không phải Cách mạng không tính đến so sánh lực lượng vật chất, nếu Cách mạng không muốn trở thành chủ nghĩa thần bí hoặc chủ nghĩa lãng mạn… nhưng Đảng đã tìm cách tập hợp một số rất lớn đàn ông và đàn bà mà đạo đức và lòng tận tụy với sự nghiệp là rất cao. Họ có những hy sinh to lớn và chịu đựng vô vàn thiếu thốn… họ dễ hy sinh tính mạng của mình cho sự nghiệp”.

Một nhân tố cũng rất được Gabriel Kolko quan tâm là phương pháp làm việc của Bộ chỉ huy tối cao, tài năng của những nhà Cách mạng này. Ông cho rằng những nhà lãnh đạo của Cách mạng Việt Nam đã nắm rất vững và vận dụng tốt phương pháp biện chứng mac-xit trong việc phân tích đánh giá tương quan lực lượng, sự chuyển hóa của các yếu tố, các lực lượng can dự trong cuộc chiến, trên cơ sở đó bộ thống soái đã dự đoán đúng chiều hướng phát triển của tình hình chính trị, quân sự, xã hội, ngoại giao… do vậy đưa ra các chiến lược, kế hoạch phù hợp cho từng giai đoạn của cuộc kháng chiến. Ông viết: “Vì Cách mạng có ít sức mạnh quân sự và tài sản kinh tế nên vốn quý của Cách mạng là nhận thức của mình và sự chính xác trong lập luận và phân tích để làm cơ sở cho cách chỉ đạo chiến tranh. Nếu không thì Cách mạng chắc chắn sẽ trở thành nạn nhân của so sánh lực lượng tự nhiên khách quan, nó đánh một cách không thương tiếc vào kẻ yếu nếu hành động của kẻ yếu đó không đủ sáng suốt và đúng đắn”. Với sức mạnh quân sự của một siêu cường, các trang thiết bị hiện đại, sức cơ động cao, hỏa lực có tính hủy diệt của quân Mỹ đã gây nên tình trạng căng thẳng thường nhật và đẩy những người bên phía cách mạng đến giới hạn cuối cùng của sức chịu đựng. Trong bối cảnh như vậy công tác chính trị tư tưởng trong lực lượng quân giải phóng, cán bộ, du kích… là vấn đề sống còn: “Việc giữ vững tinh thần trong những điều kiện có những thách thức đáng sợ và những thiếu thốn mọi bề là rất cần thiết cho sự sống còn. Cán bộ tìm cách giúp binh sĩ vượt qua những lo sợ cá nhân và làm cho họ thấy được sức mạnh của tập thể và đủ sáng suốt để khắc phục những khó khăn. Tự phê bình được khuyến khích và phê bình và tự phê bình thường thay cho các hình phạt quân sự”. Ông cho rằng, cán bộ chính trị trong Quân giải phóng đã làm tốt công tác tư tưởng, họ thực sự là những người cha, người anh, người bạn đối với binh sĩ: “họ hiểu rõ những buồn lo, đơn độc, và thiếu thốn của binh sĩ nên tìm mọi cách giảm nhẹ một phần bằng những cố gắng của bản thân nhưng chính là bằng việc xây dựng tình đoàn kết thực sự giữa những người cùng chiến đấu”. Đi liền với công tác tư tưởng là chính trị, tức lý tưởng của những người tham gia hoạt động, chiến đấu trong hàng ngũ cách mạng. Gabriel Kolko cho rằng việc Đảng chú trọng giáo dục tính chính  nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và quyền lợi chính đáng sẽ được hưởng đã tạo nên kỷ luật tự giác, tinh thần chiến đấu kiên cường của người lính cách mạng:“Quân đội cách mạng chiến đấu vì một sự nghiệp chính nghĩa. Nhiều nông dân nghèo biết rằng thắng lợi sẽ đưa lại an ninh vật chất và công bằng cho gia đình và thôn xóm họ. Đảng tìm cách làm cho mọi binh lính hiểu rõ điều đó và luôn luôn thừa nhận rằng quân đội hùng mạnh nhất là quân đội có ý thức chính trị rõ rệt nhất”.

Chiến tranh xét cho cùng vẫn theo quy luật “mạnh được yếu thua”, “sức mạnh vật chất chỉ bị đánh bại bởi một lực lượng vật chất” (lời của Mác). Tuy nhiên đánh giá sức mạnh của các bên tham chiến không đơn thuần là so sánh sức mạnh quân sự hay kinh tế… mà phải tổng hợp nhiều yếu tố như chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, đường lối chiến tranh, khoa học kỹ thuật… và sự tác động, chuyển hóa lẫn nhau giữa chúng…Việc nắm rõ tính chất, quy luật của chiến tranh, hiểu rõ chỗ mạnh, chỗ yếu của đối phương để khoét sâu điểm yếu, hạn chế tối đa sức mạnh của kẻ thù, phát huy sức mạnh tinh thần của mình, biến những lực lượng tinh thần ấy thành sức mạnh vật chất, tận dụng các điều kiện quốc tế…là điều mà Đảng CSVN đã thực hiện một cách xuất sắc qua đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn. Nhà báo lừng danh Uyn-phrét Bớc-sét kể rằng, khi bắt đầu đưa quân vào miền Nam Robert McNamara, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ lúc ấy trong một cuộc lời trả lời báo chí phương Tây đã cho rằng: Đại tướng Võ Nguyên Giáp là “tín đồ mù quáng của học thuyết chiến tranh nhân dân”. Nghe vậy Tướng Giáp chỉ cười và nói: “Để chờ xem!”. Và rồi ở tuổi 90, khi viết cuốn hồi ký mang tựa đề “Hồi tưởng” xuất bản năm 1995, vị cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đã thừa nhận 11 sai lầm mà Mỹ đã mắc phải trong cuộc chiến tranh này. Trong đó ngậm ngùi nhất là những sai lầm của giới chóp bu Mỹ khi đánh giá thấp sức mạnh văn hóa, tức nhân tố con người của dân tộc Việt Nam: “…Chúng ta đánh giá thấp sức mạnh của tinh thần dân tộc có thể huy động nhân dân đấu tranh và hy sinh vì đức tin và giá trị của họ. Cách nhìn nhận của chúng ta về bạn và thù phản ánh sự dốt nát sâu sắc của chúng ta về lịch sử, văn hóa và chính trị của nhân dân Việt Nam, cũng như về nhân cách và tập quán của các nhà lãnh đạo của họ”. Và Robert McNamara cũng thừa nhận sai lầm khi người Mỹ không thấy điểm yếu cốt tử của học thuyết chiến tranh chỉ dựa vào sức mạnh thuần túy của vũ khí: “Chúng ta đã thất bại khi đó (và từ đó đến nay) trong việc nhận ra những hạn chế của khí tài, lực lượng và học thuyết quân sự công nghệ cao, hiện đại… Chúng ta cũng thất bại trong việc điều chỉnh chiến thuật quân sự của chúng ta cho phù hợp với nhiệm vụ thu phục nhân tâm của người dân thuộc một nền văn hóa hoàn toàn khác biệt”.

Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, vũ khí công nghệ cao đã tạo ra nhiều ưu thế trong chiến tranh hiện đại. Điều này bắt buộc quân đội ta cũng phải từng bước hiện đại hóa vũ khí trang thiết bị, một số binh chủng đang đi thẳng vào hiện đại hóa. Tuy nhiên, Đảng ta vẫn khẳng định nhân tố con người vẫn là nền tảng trong học thuyết quân sự của Đảng, đường lối chiến tranh nhân dân vẫn là sức mạnh vô địch của dân tộc ta trong công cuộc bảo vệ tổ quốc. Kinh nghiệm lịch sử, bao gồm cả sự phân tích, công nhận của bên đối kháng về tính quyết định của nhân tố con người trong các cuộc chiến tranh cứu nước vừa qua vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

D.H