*Kỷ niệm 110 năm văn hóa Sa Huỳnh: Dấu ấn Sa Huỳnh trong di sản văn hóa Cơ Tu

Trong hành trình lịch sử dân tộc có ba nền văn hóa khảo cổ học được coi là ba cái nôi của văn minh cổ xưa trên lãnh thổ Việt Nam. Đó là văn hóa Đông Sơn (thế kỷ VII BC – thế kỷ I AD), văn hóa Sa Huỳnh (thế kỷ X BC – cuối thế kỷ II AD), văn hóa Óc Eo (thế kỷ I AD – thế kỷ VII AD). Ba nền văn hóa này đã tạo nên tam giác văn hóa trong buổi đầu lịch sử của dân tộc. Quảng Ngãi là cái nôi của nền văn hóa Sa Huỳnh,

Mã não là món quà quý giá mà đồng bào Cơtu tặng cô dâu trong lễ cưới

được M.Vinet, nhà khảo cổ học người Pháp phát hiện vào năm 1909, đến nay vừa tròn 110 năm. Sau đó, nhiều di chỉ văn hóa Sa Huỳnh khác được phát hiện ở lưu vực sông, đồng bằng ven biển, các đảo gần bờ, vùng trung du và miền núi thuộc dải đất miền Trung. Văn hóa Sa Huỳnh lên tận dãy Trường Sơn, nơi thượng nguồn sông Vu Gia, Thu Bồn, định hình nên dấu ấn Sa Huỳnh trong đời sống văn hóa các tộc người trên vùng núi phía Tây xứ Quảng.

Trải qua thời gian, mặc dù nền văn hóa Sa Huỳnh không còn nữa nhưng dấu ấn của nó vẫn còn bảo lưu trong nền văn hóa của các tộc người thiểu số, thể hiện trong tập quán trang sức, nghề thủ công truyền thống, nghệ thuật trang trí, công cụ sản xuất… Tập quán trang sức bằng chuỗi hạt mã não (agate) xuất hiện rất sớm trong cuộc sống của người Sa Huỳnh và được họ sử dụng khá phổ biến. Cho đến nay, mã não vẫn con nguyên giá trị, là thứ trang sức, tài sản không thể thiếu của các dân tộc ít người đang sinh sống ở vùng Trường Sơn – Tây Nguyên như Cơ Tu, Tà Ôi, Bru – Vân Kiều… Vậy những hạt mã não từ đâu mà có được để họ sử dụng làm đồ trang sức? Người Cơ Tu đã từng giao lưu lâu đời với người Champa, họ cho rằng mã não là sản vật do ông bà, tổ tiên họ trao đổi với người “Zoát Hời” (Chăm) trước đây. Sau này, khi thiết lập mối quan hệ buôn bán với người Kinh ở đồng bằng, đồ mã não được họ “tích lũy” nhiều hơn từ nguồn hàng mang lên cung cấp cho “người Thượng” của các thương lái.

Là địa bàn cư trú của người cổ Sa Huỳnh, người Kinh ở lưu vực sông Thu Bồn (Quảng Nam) cũng thu nhặt được nhiều đồ trang sức mã não từ các mộ chum và mang lên cung cấp cho người miền núi để đổi lấy trâu bò, lâm thổ sản quý. Trong các di chỉ khảo cổ học thuộc văn hóa Sa Huỳnh được khai quật ở Quảng Nam, đồ trang sức chôn theo trong các mộ chum chiếm số lượng nhiều nhất và chủ yếu là hạt mã não. Di chỉ Lai Nghi (Điện Bàn) có đến hàng trăm hạt chuỗi mã não. Các di chỉ khảo cổ học ở Đại Lãnh (Đại Lộc) cũng phát hiện nhiều hạt chuỗi mã não. Với một số người chuyên tìm kiếm “đồ cổ”, mã não cũng là món hàng có thể mang lại cho họ nhiều lợi nhuận, nên trước đây, tại một số địa phương trong tỉnh, họ lén lút thuê nhân công đào bới các di chỉ khảo cổ học để tìm kiếm hạt mã não cung cấp cho đồng bào miền núi. Mã não là hiện vật có giá trị lớn trong cách trao đổi, mua bán “vật đổi vật” theo tập quán của đồng bào. Một chuổi mã não tròn xưa (17 hạt to bằng ngón tay cái) có thể đổi được một trâu 8 gang, đổi vải dèng có trang trí hoa văn bằng cườm chì được 7 sải…

Bản thân người Cơ Tu cũng được sở hữu thứ trang sức ưa thích này một cách tình cờ khi họ nhặt nhạnh những hạt mã não có màu huyết dụ rơi rớt ở các bờ suối, triền sông hay đào bới được ở các khu cư trú, mộ táng của người Sa Huỳnh xưa kia. Kết quả điều tra khảo cổ học cho thấy, các huyện miền núi Quảng Nam, trong đó có huyện Nam Giang, Đông Giang, xã Đại Lãnh (Đại Lộc), huyện Tiên Phước… cũng là một trong những địa bàn phân bố của nền văn hóa Sa Huỳnh. Đến nay, các nhà khảo cổ học đã phát hiện các di chỉ của người Sa Huỳnh ở Brăng (xã Cà Dy, huyện Nam Giang), Pa Xua, Zơ Ra (xã Tà Bhing, huyện Nam Giang). Các di chỉ này có niên đại vào khoảng trước và sau Công nguyên.

Đối với đồng bào Cơ Tu, mã não là vật trang sức quý giá nhất trong các đồ trang sức. Cùng với hạt cườm ngũ sắc, mã não là thứ trang sức trên cổ được ưa dùng nhất của nam, nữ Cơ Tu. Các cô gái trẻ hay phụ nữ lớn tuổi đều đeo trang sức mã não. Nó tượng trưng cho vật trang sức có giá trị lớn nhất của người Cơ Tu. Do đó, mã não cũng là sính lễ không thể thiếu trong cưới hỏi của đồng bào. Theo quan niệm của đồng bào, mã não là biểu tượng của sự giàu có, no ấm. Mã não được họ xem như là “vật thiêng giúp người tránh xa tà ma, bệnh tật”, là cái để làm đẹp, tránh gió độc, bảo vệ sức khỏe. Là vật gia bảo tượng trưng cho cái đẹp nên đồ trang sức mã não là đối tượng được khắc họa sinh động trong nghệ thuật trang trí dân gian. Hoa văn trên trang phục, nhà làng truyền thống (Gươl), cây Nêu (xơ-nur) và một số vật dụng khác thì hình mã não là mô típ khá phổ biến. Trong kho tàng nghệ thuật trang trí của người Cơ Tu, đặc biệt là nghệ thuật trang trí trên nền vải, hoa văn mã não được thể hiện một cách sáng tạo, đan xen, hòa quyện với mô típ hoa văn khác như hoa văn chày cối, hoa văn ngọn chông, hoa văn hàng rào… tạo nên nét đặc biệt trong thổ cẩm, trang phục truyền thống dân tộc. Trong một dải hoa văn phức hợp được thể hiện trên váy, áo, tấm vải dài… bao giờ hoa văn mã não cũng chiếm vị trí trung tâm với những hình thoi nổi bật hẳn lên trên nền thổ cẩm.

Cũng như đá mã não, thủy tinh cũng là chất liệu phổ biến trong bộ sưu tập trang sức của người Cơ Tu. Từ thời sơ kỳ đồ sắt, thủy tinh cũng được người cổ Sa Huỳnh dùng làm đồ trang sức hàng ngày như khuyên tai, vòng đeo tay. Theo các nhà nghiên cứu, đồ trang sức thủy tinh có nguồn gốc địa phương chứ không phải qua con đường nhập khẩu mà có. Một số nhà nghiên cứu cho rằng thủy tinh và kỹ thuật chế tác thủy tinh đầu tiên được người cổ Sa Huỳnh tiếp nhận rồi chúng lan tỏa đến phía Bắc (văn hóa Đông Sơn) và phía Nam (văn hóa Đồng Nai). Đồ thủy tinh hấp dẫn họ vì có vẻ đẹp long lanh, bóng, mịn, độ phản quang tốt, màu sắc quyến rũ: có loại trong suốt hoặc trắng đục; có loại màu xanh lơ, xanh đen, xanh lá mạ hoặc màu nâu, da cam, đỏ tía hay xám tro. Ở Quảng Nam, có nhiều địa điểm khảo cổ thuộc nền văn hóa Sa Huỳnh có đồ thủy tinh. Đặc biệt, ở Tà Bhing, huyện Nam Giang, một địa bàn cư trú của người Cơ Tu hiện nay, khi khai quật các khu mộ cổ các nhà khảo cổ học cũng tìm thấy nhiều khuyên tai và hạt chuỗi bằng thủy tinh… Qua đó cho thấy, cùng với đá mã não, đồ thủy tinh của người Sa Huỳnh cũng có ảnh hưởng đến tập quán trang sức của người Cơ Tu hiện nay, một truyền thống trang sức có lịch sử hơn 2000 năm.

Mô típ mã nào trang trí trên cối giã gạo của dân tộc Cơ Tu

Nhiều hiện vật, dụng cụ lao động như giáo, cuốc tìm thấy trong các di chỉ văn hóa Sa Huỳnh thì cũng lại thấy khá phổ biến trong các công cụ dùng để đi săn bắt, canh tác nương rẫy của đồng bào miền núi. Đồng bào đã “sao chép” một số công cụ của người xưa để phục vụ cho cuộc sống hôm nay. Các nhà khảo cổ học rất ngạc nhiên khi chiếc cuốc cào cỏ của người Cơ Tu không khác với cái cuốc đồng tìm thấy trong di chỉ gò Mã Vôi thuộc văn hóa Sa Huỳnh, ngọn giáo người Cơ Tu dùng để đi săn, đâm trâu, vũ khí tự vệ không lạ so với đồ vật cùng dạng của người cổ Sa Huỳnh. Nhìn chung, một số dụng cụ bằng sắt của người sa Huỳnh đã được một số tộc người ở Trường Sơn – Tây Nguyên tiếp tục chế tác và sử dụng.

Những tinh hoa của văn hóa Sa Huỳnh vẫn được các tộc người bảo lưu, gìn giữ, tiếp nhận và sáng tạo với những hình thức mới có thể nhận dạng, tìm thấy trong phục sức, nghệ thuật trang trí, nghề thủ công truyền thống, đồ dùng sinh hoạt và công cụ lao động. Đặc biệt, tập quán trang sức mã não của người cổ Sa Huỳnh được các dân tộc ngày nay kế thừa và phát huy, tô điểm thêm sắc màu văn hóa của mỗi tộc người. Văn hóa Sa Huỳnh được hóa thạch và in đậm dấu ấn vào văn hóa truyền thống của các tộc người dọc dãy Trường Sơn, thể hiện sự kế thừa, chuyển tiếp dòng chảy, mạch nguồn văn hóa từ quá khứ đến hiện tại.

T.V