Bảo tồn hệ sinh thái vùng biển Núi Thành để phát triển du lịch

Bàn Than

Nằm ở cực Nam của tỉnh Quảng Nam, Núi Thành có diện tích 533.03 km², địa hình thấp dần từ Tây sang Đông. Phía Tây Núi Thành giáp với huyện Bắc Trà My, có nhiều đồi núi cao, gồm các xã Tam TràTam SơnTam ThạnhTam Mỹ ĐôngTam Mỹ Tây… Vùng đồng bằng phía Tây sông Trường Giang gồm các xã Tam Xuân ITam Xuân IITam Anh NamTam Anh BắcTam Hiệp, xã Tam Nghĩathị trấn Núi Thành. Các xã ven biển nằm về phía Đông sông Trường Giang gồm Tam TiếnTam HòaTam GiangTam HảiTam Quang.

Trường Giang chảy dọc ven biển, đã từng là con đường thủy huyết mạch của đất Quảng Nam trong nhiều thế kỷ. Từ cửa Hàn vào đến cửa An Hòa, con đường thủy nội địa này kéo dài khoảng 100km, riêng đoạn từ Hội An đến An Hòa dài khoảng 70km. Sông có chỗ rộng, chỗ hẹp nhưng cũng đủ sâu để những ghe có trọng tải lớn như ghe bầu có thể lưu thông được, xưa kia người dân có thể dùng ghe thuyền đi từ cửa An Hòa đến Cửa Đại – Hội An, rồi từ Hội An theo sông Cổ Cò ra đến tận Cửa Hàn – Đà Nẵng… Nhiều bến sông, chợ ven sông được hình thành như Bàn Thạch, Lạc Câu, Chợ Bà, Chợ Được, Bến Đá, Tam Ấp… ngày đêm ghe thuyền xuôi ngược trên dòng Trường Giang tạo nên quang cảnh trên bến dưới thuyền nhộn nhịp. Là con sông nước lợ, với những bãi bồi dọc đôi bờ, cảnh quan Trường Giang thay đổi theo từng vùng, có nơi hai bên bờ mọc đầy dừa nước, nhiều đoạn sông uốn lượn qua những cánh đồng lúa xanh rờn, có khi đôi bờ lại là những cồn cát trắng…

Trải qua hàng trăm năm, do tác động của thiên nhiên và cả bàn tay của con người, nhiều đoạn trên sông Trường Giang bị bồi lấp, xâm thực bởi lũ lụt, nhiều chỗ bị cây cỏ ven bờ phát triển mạnh lấn dần ra làm hẹp dòng sông; cũng không ít chỗ bị một số người lấn sông be bờ làm hồ nuôi tôm, đặt sáo nò, chơm, rớ…, khiến sông ngày càng bị thu hẹp và cạn dần… Các khu công nghiệp được xây dựng trong vùng góp phần phát triển kinh tế địa phương, song phần lớn các nhà đầu tư ít quan tâm đến vấn đề môi trường, hầu hết nước thải từ các khu công nghiệp xả thẳng ra sông, gây ô nhiễm nghiêm trọng.

Để làm sông Trường Giang sống lại, song song với việc xử lý nguồn nước thải, cần nạo vét khơi thông dòng sông, trong quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Nam có đề án cải tạo, nạo vét sông Trường Giang, đây là một đề án rất quan trọng, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa được triển khai, đây là việc làm thiết thực cần nỗ lực thực hiện, nó không chỉ khôi phục lại tuyến giao thông thủy nội địa của Quảng Nam mà còn góp phần thoát lũ nhanh cho vùng hạ lưu sông Tam Kỳ, đồng thời phát triển du lịch sinh thái. Nạo vét, cải tạo Trường Giang phải bảo đảm đủ độ sâu của sông, tháo dỡ các công trình là chướng ngại vật trên sông để thuyền bè có thể lưu thông thuận tiện từ Cửa Đại đến cửa An Hòa. Ngày nay, lưu thông trên sông thường là các loại ghe nhỏ như ghe rỗi, ghe rớ, ghe chài, ghe mành… bên cạnh đó, khi hình thành tuyến tham quan trên sông Trường Giang, không nên dùng tàu lớn, mà dùng những thuyền cỡ nhỏ hoặc chiếc ghe gỗ, thuyền nan với các thiết bị cứu sinh bảo đảm an toàn cho hành khách sẽ hấp dẫn hơn, bởi du khách có thể chậm rãi thưởng thức cảnh sắc hữu tình hai bên bờ sông… các loại phương tiện này có tải trọng không lớn nên chỉ cần độ sâu khoảng 2-3m nước là có thể di chuyển được.

Vùng ven biển với những dải cồn cát kéo dài, có nhiều đầm phá, rừng ngập mặn, đặc biệt là những bãi đá trầm tích có giá trị về địa chất nằm ven bờ thuộc xã Tam TiếnTam HảiTam Quang, đặc biệt, bãi đá Bàn Than ở Tam Hải và Hòn Mang, Hòn Dứa ở ngoài khơi là thắng cảnh nổi tiếng của Quảng Nam…

Xã đảo Tam Hải có diện tích 455,75 ha, dân cư sinh sống chủ yếu bằng nghề đánh cá. Được xếp vào xã đảo nhưng thực chất Tam Hải là một bán đảo, ngăn cách với vùng đồng bằng bởi sông Trường Giang. Theo kết quả nghiên cứu, vùng biển Tam Hải có hơn 90 ha rạn san hô, với khoảng 100 loài. Hệ sinh thái rạn san hô Tam Hải có 41 loài rong biển, 168 loài cá, trong đó nhiều loài có giá trị kinh tế như cá hồng, cá mú, cá lượng, cùng với tôm hùm đỏ, tôm hùm sỏi và nhiều loài ốc. Các loài rong trong vùng biển Tam Hải không những tạo môi trường sống, nơi trú ẩn, nuôi dưỡng con non cho các loài tôm, cá, cua, ghẹ… mà hàng năm còn cung cấp cho cộng đồng ngư dân của xã một nguồn sinh khối đáng kể, mang lại một nguồn thu lớn cho các hộ gia đình thông qua việc thu hoạch rong mơ và một số loài thực vật khác.[1]

Trong nhiều năm qua hệ sinh thái rạn san hô khu vực Tam Hải bị đe dọa bởi nhiều nguyên nhân, trước hết là sự tác động tiêu cực của con người, việc khai thác hải sản bằng các phương tiện giã cào, xung điện, chất nổ… không chỉ tận diệt nguồn hải sản mà còn phá hoại rạn san hô, thêm vào đó, ô nhiễm rác thải và nước thải; nhiệt độ nước biển tăng do biến đổi khí hậu cũng là nguyên nhân làm cho các rạn san hô suy thoái dần.

Rừng ngập mặn không chỉ là “lá phổi xanh” mà còn cung cấp cho người dân địa phương nguồn thủy sản quý giá nuôi sống họ từ bao đời nay. Tuy nhiên, diện tích rừng ngập mặn tại Tam Hải, Núi Thành với các loài mắm, bần, đước, sú, vẹt, cóc, dừa nước… đang bị thu hẹp dần do việc xây dựng khu dân cư, làm ao, đìa nuôi thủy sản.

Biển Tam Hải

Một trong những biện pháp nhằm phục hồi lại tài nguyên và môi trường nói chung và rừng ngập mặn nói riêng là cần phải dựa vào cộng đồng, tuy nhiên để làm được việc này cần giải quyết hài hòa lợi ích của người dân với bảo tồn môi trường tự nhiên, các sinh kế của người dân địa phương trong vùng rừng ngập mặn cần phải được cải thiện và nâng cao một cách bền vững. Phải tạo ý thức và hành vi ứng xử đúng đắn của cộng đồng dân cư và du khách đối với môi trường tự nhiên, đồng thời phải tạo sinh kế mới, bảo đảm thu nhập và nâng cao đời sống người dân địa phương. Du lịch sinh thái cần có sự tham gia tích cực của cư dân địa phương, vì thế phải gắn việc xây dựng cơ sở vật chất với việc tuyên truyền vận động nhân dân bảo vệ môi trường, đồng thời hướng dẫn cho người dân địa phương chuyển đổi ngành nghề, tham gia làm du lịch cộng đồng.

Qua khảo sát khu vực ven biển và các đảo Hòn Mang, Hòn Dứa ở Núi Thành, các nhà khoa học đã đánh giá cao về giá trị địa chất huyện Núi Thành, PGS.TS. Chu Văn Ngợi nhận xét:

– Các điểm lộ đá cổ độc đáo và hiếm có: Các đá thuộc hệ tầng Khâm Đức và Núi Vú là đá biến chất lộ trên diện rộng (ở Tam Quang, xã Tam Hải, Hòn Dứa, Hòn Mang), thể hiện rõ: màu sắc từ xám đen đến màu lục, cấu tạo phân phiến, vi uốn nếp, cấu tạo khúc dồi, mặt trượt, các phá hủy trẻ và đặc trưng mặt phân phiến với góc dốc thoải… Đây là vết lộ hiếm có ở xứ nhiệt đới vì lộ toàn đá gốc, trong khi đó phần lớn ở các nơi khác đá gốc đều bị phong hóa mạnh.

–  Có giá trị khoa học cao: Các đá lộ ra ở đây là đối tượng nghiên cứu về đá biến chất, về lịch sử phát triển vỏ lục địa cổ trong giai đoạn Proterozoi – Paleozoi sớm. Đây là giai đoạn phá vỡ siêu lục địa, hình thành các đai động, vỏ lục địa phát triển và mở rộng. Điểm lộ với đặc điểm lộ toàn đá gốc, lưu giữ nguyên vẹn các đặc điểm địa chất từ màu sắc đến các cấu tạo là điều kiện quan trọng  đối với nghiên cứu thành phần vật chất và khôi phục lịch sử phát triển địa chất. Kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ lịch sử phát triển địa chất trong giai đoạn này… [2].

Bên cạnh giá trị về địa chất, Núi Thành còn có những giá trị lịch sử – văn hóa đặc sắc. Trong lòng đất Núi Thành ẩn chứa những giá trị văn hóa cổ có niên đại hàng ngàn năm. Tại Bàu Dũ, một gò đất thuộc thôn Phú Trung, xã Tam Xuân I, các nhà khảo cổ đã khai quật được hàng chục di cốt người cổ cùng nhiều công cụ đá nằm trong tầng vỏ sò điệp lẫn xương thú và cá biển, có niên đại khoảng 6.000 năm, đây là di tích thuộc loại hình “đống rác bếp” đầu tiên được phát hiện ở vùng Nam Trung bộ. Di tích Tam Mỹ được khai quật năm 1976 khu mộ chum Sa Huỳnh đầu tiên ở Quảng Nam, rồi mộ chum Phú Hòa có niên đại cách nay khoảng 2.000 đến 2.500 năm được phát hiện năm 1977 cũng thuộc xã Tam Xuân II. Năm 1979, di tích tiền Sa Huỳnh đầu tiên của Quảng Nam, có niên đại khoảng 3.000 năm được khai quật tại Bàu Trám thuộc thôn Lý Trà, xã Tam Anh Bắc.

Giai đoạn văn minh Champa được đánh dấu với khu tháp Khương Mỹ có niên đại cuối thế kỷ IX đầu thế kỷ X, những dải hoa văn thảo mộc và hình học cách điệu trên tường tháp thể hiện sự giao thoa với văn hóa Khmer, bên cạnh đó là những tác phẩm điêu khắc tinh tế cùng hệ thống trang trí chân tường bằng sa thạch chạm trổ những phù điêu rất sinh động. Cách khu tháp Khương Mỹ hơn 1km về phía Đông Nam là phế tích tháp Champa Phú Hưng, tại đây đã xuất hiện nhiều tác phẩm điêu khắc có giá trị nghệ thuật cao, niên đại khoảng đầu đến giữa thế kỷ X.

Khi người Việt định cư ở Núi Thành, cùng với việc xây dựng nhiều công trình đình, miếu, nhà cửa, đã hình thành những giá trị văn hóa phi vật thể của cư dân miền biển, trong đó trước hết phải nói đến lễ tế cá Ông, lễ Cầu ngư với nghệ thuật hát Bả trạo đặc sắc của cư dân miền biển…

Theo định nghĩa của Mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu (Global Geopark Network-GGN), Công viên địa chất (Geopark) là một khu vực tự nhiên, có ranh giới rõ ràng, trong đó chứa đựng một tập hợp các di sản địa chất có giá trị khoa học, đồng thời có các giá trị về đa dạng sinh học, khảo cổ, lịch sử, văn hóa xã hội và có diện tích lớn để phát triển kinh tế địa phương, thông qua khai thác các hoạt động du lịch và các dịch vụ phụ trợ khác. Một công viên địa chất quốc gia khi có đủ điều kiện sẽ được UNESCO công nhận là Công viên địa chất Toàn cầu.

Như vậy, Núi Thành đáp ứng được các tiêu chí để thành lập Công viên địa chất, trước mắt là Công viên địa chất quốc gia. Những lợi ích mà Công viên địa chất mang lại cho địa phương đó là tạo nên sức hấp dẫn đối với du khách, du lịch tăng trưởng sẽ tạo việc làm cho cộng đồng địa phương thông qua các dịch vụ lữ hành, lưu trú, ăn uống, bán hàng lưu niệm… Khi được hưởng lợi từ Công viên địa chất, người dân trong vùng sẽ nâng cao nhận thức về môi trường địa chất, họ không chỉ góp phần tích cực hơn trong việc gìn giữ môi trường, cảnh quan và các giá trị văn hóa, lịch sử mà còn tham gia hữu hiệu vào việc bảo vệ chủ quyền biển đảo…

                                                        H.X.T

[1] TS. Chu Mạnh Trinh. Tam Hải, Núi Thành, Quảng Nam- Tiếp cận bảo tồn để phát triển bền vững. Tham luận Hội thảo Nhận diện giá trị di sản địa chất tại huyện Núi Thành, Quảng Nam. 2017

[2] PGS.TS. Chu Văn Ngợi. Tiềm năng di sản địa chất và nhân văn huyện Núi Thành. Tham luận hội thảo Nhận diện giá trị di sản địa chất tại huyện Núi Thành, Quảng Nam. 2017