Âm vang hồn nước qua những câu đối của Huỳnh Thúc Kháng trong “Thi tù tùng thoại”

  1. Hà Ngọc Hòa

Thi tù tùng thoại của Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng (1867- 1947) là một tác phẩm văn chương bao gồm nhiều thể loại như thơ, câu đối, hát nói và những câu chuyện kể về bạn tù, về cuộc sống thường nhật nơi địa ngục trần gian Côn Đảo trong 13 năm nhà thơ bị giam cầm (1908-1921). Nguyên tác phẩm được viết bằng chữ Hán, nhưng năm 1921, sau khi được trả tự do, về đến đất liền, tác phẩm đã bị chính quyền thực dân tịch thu và thiêu hủy. Mãi đến khi ra Huế làm báo Tiếng Dân, nhà thơ mới có điều kiện viết lại theo trí nhớ và tự dịch ra tiếng Việt. Trước lúc được in thành sách (1939), tác phẩm đã được đăng liên tục trên báo Tiếng Dân từ số 1106 đến số 1196.

Tác phẩm gồm có 126 mục (tiết) không theo một thứ tự nhất định như các tác phẩm văn học hoặc sử học, song “ở trong cái vẻ “ngỏ dứt tơ liền”, riêng ra thì đoạn nào có phần đoạn ấy, mà nhập lại thành chuyện tù sử có đầu đuôi” (Thi tù tùng thoại) (*). Chuyện tù sử có đầu đuôi ấy là sự hội tụ tinh hoa của các phong trào yêu nước bốn phương dồn lại. Có những phong trào yêu nước vắt mình qua hai thế kỷ như phong trào Văn thân, Cần vương; có những phong trào được hình thành những năm đầu thế kỷ XX như phong trào Đông du, Duy tân và cả những phong trào về sau như khởi nghĩa Thái Nguyên, khởi nghĩa Duy Tân… Với quan niệm “Không thành công thì cũng thành nhân”, các sĩ phu tham gia phong trào yêu nước lần lượt nhận những kết quả bi tráng cuối cùng. Người thì lên đoạn đầu đài, người thì lưu vong ở nước ngoài, người thì bị lưu đày Côn Đảo với bản án “ngộ xá bất nguyên” (gặp ân xá cũng không được tha). Nhưng “Xà lim không thể khóa hồn người” (Tố Hữu), ngay giữa địa ngục Côn Đảo ấy, các thế hệ sĩ phu nối tiếp nhau thể hiện tinh thần bất khuất, khẳng khái, tiếp tục đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc. Họ biến Côn Đảo thành trường học để rèn luyện bản thân, trau dồi ý chí. Vũ khí chính của họ vẫn là văn chương, nhưng văn chương ở đây không còn là câu chuyện trà dư tửu hậu của ông nghè, ông cử, mà là văn chương gắn liền với chính trị, với một mục đích duy nhất “Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng… Một ngòi lông vừa trống vừa chiêng” (Phan Bội Châu. Văn tế Phan Châu Trinh). Vì thế, không ai ngạc nhiên, khi trong Thi tù tùng thoại, hầu như không có một bài thơ, câu đối nào mang tính chất thù tạc ca ngợi hay vịnh phong cảnh thiên nhiên như thơ ca truyền thống.

 

Câu đối trong Thi tù tùng thoại chiếm số lượng không nhiều. Thống kê cho thấy chỉ có 44 câu đối của các nhà chí sĩ cùng bị giam cầm trong ngục tù Côn Đảo với Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng. Trong 44 câu đối ấy, Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng có đến 14 câu khắc họa lại những cuộc đời vừa quen vừa lạ. Trừ câu đối mừng thọ thân phụ nhà yêu nước Đặng Thai Sơn, các câu đối còn lại của nhà thơ đều là tiếng khóc bi tráng, xót thương cho những người vì nghĩa cả mà chấp nhận “Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân” (Cùng một lứa bên trời lận đận. Bạch Cư Dị):

“Thử địa vi hào kiệt thiên nhiên chi học đường, lai dữ ngô bối tương châu triền, thanh phúc kỷ sanh tu đắc đáo.

Nhất hương nải quốc gia súc tiểu chi ảnh tử, năng vị đồng bào tranh lợi ích, cùng hoang nhất tử quỷ do hùng.”

(Đảo này là trường học thiên nhiên bạn anh hùng, với chúng ta cùng sớm chiều, thanh phúc mấy đời tu được thế!

Một làng là tấm ảnh rút nhỏ của nhà nước, cùng đồng bào tranh lợi ích, cùng hoang một thác quỷ càng thiêng.) (Câu đối điếu lý trưởng làng Hạ Lôi, Hà Tĩnh).

Khước từ truyền thống, câu đối của Huỳnh Thúc Kháng cũng như những bạn tù chính trị khác đều mang những sắc màu riêng. Có những câu đối trực tiếp khóc thương cho những người bạn tù sớm “Góc biển rừng hoang… sao không cùng ta ở lại bỏ ta đi trước” (Nghĩa Bình); có những câu đối được gọi là điếu vong, xót thương cho các nhà chí sĩ vì nước mà bỏ mình ở những địa ngục trần gian khác trên khắp cả nước, hay xót thương cho những người phụ nữ vì chồng lưu đày biệt xứ mà suốt đời thầm lặng hy sinh:

“Nhị thập niên văn kẻ đải đán, đắc chỉ hiền trợ vi đa; tráng chí vị thù, khứ quốc thử hồi thân nhất diệp.

Thiên lý ngoại kiến nhạn tư hương, đương thử ly hồn vị định, ai bưu thốc chí, khai giam vô ngữ lệ thiên hàng.”

(Hai mươi năm nghe gà đợi sáng, vẫn nhờ hiền trợ giúp nhiều, chí lớn chưa đền, lìa nước tấm thân như chiếc lá.

Ngoài ngàn dặm trông nhạn nhớ nhà, đương lúc ly hồn chưa định, tin buồn vội đến, xem thơ không nói luống rơi châu.) (Câu đối điếu vợ Tiểu La Nguyễn Thành).

Điều đặc biệt trong câu đối của nhà thơ, cho dẫu trực tiếp hay điếu vong, thì tinh thần yêu nước, tư tưởng Duy Tân vẫn hiển hiện trên từng câu chữ. Nói cách khác đấy là hồn nước, là âm vang “Hồng Lạc” đang thiết tha giục giã từng ngày đối với một thế hệ nhà nho mới – thế hệ nhà nho vứt bỏ những vướng víu của tư tưởng trung quân để hồ hởi tiếp thu Tân thư, tiếp thu những luồng sinh khí mới của tuồng “Mưa Âu gió Mỹ”. Không có câu đối nào của nhà thơ hay của các nhà chí sĩ khác lại không khắc họa, đan cài tư tưởng Duy Tân vào cuộc đời người nằm xuống:“Quốc dân gánh nặng, kiếp chết vẫn là thường” (Mính Viên);“Đời cựu buổi tân, vị trí nghiễm nhiên dành một chiếu” (Mính Viên); “Kẻ chết người đày, Hồng Lạc ngàn năm đầu thấy sử” (Lâm Ngu); “Mưa Âu gió Mỹ, buổi càn khôn dễ có mấy khi” (Nghĩa Bình); “Chả thấy quyền dân kết trái, toàn cầu muôn miệng ngợi Lư Xoa” (Cử Võ Trạc)… Và có lẽ, cũng chính vì thế mà hình ảnh người chí sĩ giữa ngục tù Côn Đảo dẫu không da ngựa bọc thây mà chỉ có xe bò chở xác “Xưa da ngựa mà nay xe bò cũng đủ khiến cho kẻ trượng phu khởi sắc” (Dương Trường Đình) cũng trở nên lung linh và bất tử. Từ câu thơ vĩnh biệt của Dương Trường Đình, hình ảnh xe bò chở xác đã trở thành biểu tượng cho lòng yêu nước bất khuất, được láy đi láy lại trong Thi tù tùng thoại: “Bóng chiều cồn vắng, đưa xe bò khuất ngẩn ngơ cười” (Nghĩa Bình); “Kìa xe bò sánh ngang da ngựa, thơ ngươi cứng rõ khí bình sanh” (Tập Xuyên và Thiếu Niên); “Phó mặc xe bò da ngựa, thơ người khẳng khái viết khi đau” (Thai Sơn); …:

“Toàn xa giai thoại khởi kỳ hữu ước gia? Đệ bất túc hữu trùng chi dĩ huynh, cổ kiếm song phi, dị địa phong lôi bì ủng hộ.

Hồng lạc quốc hồn, thượng kỳ qui lai tá! Sanh như hà khả võ phụ ư tử, võ đài nhất được tiên thời nhân vật sổ tranh vanh.”

(Chuyện xe bò mới đó, có hẹn nhau sao? Em chưa đủ lại chết dồn đến anh, gươm báu cấp đôi bay, giông gió ven trời thêm nặng đám.

Hồn Hồng Lạc đi đâu, hãy về chăng tá! Sống thế nào không phụ lòng kẻ chết, sân tuồng gióng một vọt, anh hùng lớp trước kể bao tay?) (Câu đối điếu Dương Thưởng hy sinh ở Nhà tù Lao Bảo).

Rõ ràng, tư tưởng Duy tân đã đem lại cho câu đối của nhà thơ những trường nghĩa mới, đan cài vào nhau. Khóc cho người nằm xuống, giờ đây không đơn thuần chỉ là tái tạo, ca ngợi công lao mà còn là tiếng khóc máu chảy ruột mềm, tiếng khóc vì nghĩa đồng bào, vì vận nước thăng trầm dâu bể. Vì thế, câu đối của nhà thơ không khiến người đọc bi lụy, mà trái lại đầy cảm xúc bi tráng, hào hùng, thôi thúc cả dân tộc “Dậy mà đi”:

“Dũ hạ phi sở vị đắc sở, độc xa diệc hà tất phi toàn quy; huống bình sanh giang hồ bôn tẩu, kiếm hiệp phùng nghinh, hắc thiết thượng tồn, võ sĩ hữu hồn ưng bất tử.

Dĩ vãng giả bất khả phục truy, hậu lại giả hựu vị cập kế khởi, đương thử nhật chủng tộc tồn vong cạnh tranh kịch liệt, thanh thiên khả bổ, anh hùng khuất chỉ khổ vô da.”

(Dưới cửa sổ không phải là “chết sang”, trên xe bò không phải là chết hèn; huống bình sanh giang hồ dong ruổi, kiếm hiệp đón đưa, sắt vẫn còn đây, vũ sĩ có hồn ưng chửa chết.

Người đã qua không thể kéo về, kẻ sau lại vẫn chưa kịp nổi dậy; đương giữa khoảng nòi giống mất còn, cạnh tranh kịch liệt, trời kia vá được, anh hùng co ngón đếm không ai.) (Câu đối điếu Phạm Tùng Nham).

Tóm lại, bằng nỗi niềm bi tráng, bằng tiếng khóc uất hận, câu đối trong Thi tù tùng thoại của Huỳnh Thúc Kháng (nói riêng) và bạn bè ông (nói chung) đã từng bước thoát ly truyền thống để hòa nhập vào dòng chảy của thơ ca cách mạng đầu thế kỷ XX với nhiệm vụ cứu nước, giải phóng dân tộc.

__________________________________________________________

 

(*) Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng (2001), Thi tù tùng thoại, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội. Những tư liệu chúng tôi trích dẫn đều ở trong tác phẩm này.