Nhân ngày Di sản Văn hóa Việt Nam 23.11: Di sản văn hóa Quảng Nam – Tài nguyên và trách nhiệm

Quảng Nam là vùng đất có bề dày lịch sử hàng ngàn năm. Sự giao lưu, tiếp biến của các nền văn hóa Sa Huỳnh, Ấn Độ, Champa, Đại Việt, Hán… đã tạo nên những nét đặc sắc trong văn hóa vật thể và phi vật thể của xứ Quảng.\

Chiều trên tháp cổ – Thanh Dũng

Di tích sớm nhất được biết đến ở Quảng Nam có niên đại cách nay trên 6.000 năm, đó là Cồn sò điệp Bàu Dũ (Tam Xuân I, Núi Thành), một nền văn hóa thuộc giai đoạn đá mới trước gốm. Qua nghiên cứu các di vật đã khai quật được, các nhà khảo cổ đã xếp Bàu Dũ vào loại hình di tích “Cồn sò điệp”. Vào giai đoạn sơ kỳ thời đại đồ sắt, ở miền Trung Việt Nam có một nền văn hóa nổi tiếng, niên đại tương đương với văn hóa Đông Sơn ở các tỉnh phía Bắc, đó là văn hóa Sa Huỳnh. Kết quả khảo sát, khai quật và nghiên cứu của các nhà khảo cổ cho thấy Quảng Nam là một trong những trung tâm lớn của văn hóa Sa Huỳnh. Qua những đợt khai quật tại các di tích văn hoá Sa Huỳnh, các nhà khảo cổ đã thu thập được hàng ngàn hiện vật trong các tầng văn hóa của nơi cư trú cổ và trong các mộ táng của người cổ Sa Huỳnh. Với kết quả nghiên cứu các di vật đã phát hiện trong các khu mộ chum, các nhà khảo cổ cho rằng vào giai đoạn đầu công nguyên, xã hội Sa Huỳnh bắt đầu có sự phân hóa, đã xuất hiện một tầng lớp quý tộc, những quý tộc này đã sử dụng Ấn Độ giáo làm phương tiện để thống trị về mặt tinh thần đối với cư dân bản địa…

Trên cơ sở tiếp thu nền văn minh Ấn Độ, một nhà nước sơ khai đã được thành lập tại vùng đất của các chủ nhân nền văn hóa Sa Huỳnh. Ban đầu, đó là những “quốc gia cảng thị”, những tiểu quốc này là tiền đề cho việc hình thành vương quốc Champa về sau. Trong những giá trị văn hóa mà người Chăm cổ để lại trên đất Quảng Nam nói riêng và miền Trung  nói chung, có các khu đền tháp còn đứng sừng sững như thi gan với thời gian. Với hơn 70 công trình kiến trúc từ thế kỷ IV đến thế kỷ XIII, khu đền tháp Mỹ Sơn là di tích đặc biệt quan trọng của quốc gia, tại di tích này, có thể tìm thấy hầu hết các phong cách trong nghệ thuật Champa.  Ngày 01 tháng 12 năm 1999, hồ sơ khoa học về Mỹ Sơn đã được UNESCO xét duyệt, khu đền tháp Mỹ Sơn đã được vinh dự ghi vào danh sách Di sản văn hóa thế giới.

Dựng Nêu. Ảnh: Lê Trọng Khang

Ngoài khu đền tháp Chăm Mỹ Sơn, Quảng Nam còn có các nhóm tháp Chiên Đàn, Khương Mỹ, Bằng An. Chiên Đàn và Khương Mỹ là hai nhóm tháp quan trọng trong hệ thống các di tích Chăm ở Quảng Nam, phần di tích còn tồn tại trên mặt đất ở các di tích này là nhóm 3 tháp xếp thành một hàng theo hướng Bắc – Nam, cửa tháp mở về hướng Đông. Bằng An mặc dù chỉ còn một ngôi tháp, tuy nhiên đây là ngôi tháp duy nhất có bình đồ hình bát giác còn tồn tại trên mặt đất, kiểu dáng của nó còn gợi cho chúng ta hình ảnh của một Linga khổng lồ, phù hợp với tên gọi ngôi đền Linga Paramesvara mà vua Bhadravarman II đã cho xây dựng vào cuối thế kỷ IX. Trong lòng đất Quảng Nam còn có nhiều phế tích Chăm bị sụp đổ từ lâu, những phế tích nổi tiếng như Phật viện Đồng Dương – Trung tâm Phật giáo lớn nhất của vương quốc Champa ở thế kỷ IX-X; thành Trà Kiệu – Kinh đô Simhapura của vương quốc Champa từ thế kỷ IV đến thế kỷ X; nhiều phế tích khác rải rác ở các huyện Núi Thành, Phú Ninh, Thăng Bình, Duy Xuyên, Đại Lộc, Điện Bàn, Quế Sơn, Hội An… đã được tìm thấy như An Mỹ, An Phú, Phú Hưng, Hương Quế, Lạc Thành, gò Chùa Vua, Chiêm Sơn, Gò Đình, Gò Gạch, Gò Lồi, An Bang, Gò Phật, Phú Long… cho thấy mật độ khá dày đặc của các công trình kiến trúc Chăm đã từng tồn tại ở vùng đất Quảng Nam, góp phần quan trọng vào việc nghiên cứu nghệ thuật Chăm và làm phong phú thêm kho tàng văn hóa đất Quảng.

Vào năm 1602, chúa Tiên Nguyễn Hoàng lập dinh trấn tại Thanh Chiêm, dân Việt di cư vào vùng đất mới ngày càng nhiều, tăng thêm nguồn nhân lực cho việc khai khẩn đất đai, xây dựng làng xóm. Năm 1613, chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã đẩy mạnh việc phát triển kinh tế, cải cách xã hội; ông cho lập nhiều hải cảng để đón thương thuyền nước ngoài ghé vào buôn bán. Tàu bè của các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Anh, Pháp thường xuyên cập bến Hội An để mua các loại sản vật của đất Quảng, nhờ đó Hội An đã trở thành thương cảng quan trọng nhất của Đàng Trong. Sự giao lưu, hội nhập văn hóa ở Hội An đã làm cho đô thị thương cảng này có những nét riêng độc đáo, thể hiện qua các công trình kiến trúc, điêu khắc, phong tục tập quán… Trải qua thời gian và chiến tranh, Hội An vẫn còn giữ được những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của mình. Với những giá trị vốn có, khu phố cổ Hội An đã được UNESCO ghi vào danh sách Di sản thế giới vào ngày 01 tháng 12 năm 1999.

Múa cồng chiêng. Ảnh: Vân Ly

Ngoài Hội An, quần thể di tích kiến trúc cổ quan trọng bậc nhất của nước ta, Quảng Nam còn có nhiều di tích kiến trúc Việt ở các địa phương như làng cổ Lộc Yên (Tiên Cảnh, Tiên Phước) những ngôi nhà rường gỗ mít cùng với các ngõ đá rêu phong tạo nên nét riêng độc đáo của một vùng trung du. Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng (Tiên Cảnh) cũng là một công trình kiến trúc cổ có giá trị. Một trong những ngôi đình làng có diện tích lớn cồn tồn tại ở Quảng Nam là đình Chiên Đàn (Tam Đàn, Phú Ninh). Nhiều đình làng, nhà thờ tộc được xếp hạng là di tích cấp tỉnh ở Tam Kỳ, Thăng Bình, Duy Xuyên, Quế Sơn, Đại Lộc, Điện Bàn… là di sản quý giá ghi dấu thời kỳ mở cõi của tiền nhân trên vùng đất Quảng…

Bên cạnh các công trình kiến trúc cổ, Quảng Nam còn có các danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Cù Lao Chàm – Khu dự trữ sinh quyển thế giới – gồm 8 hòn đảo lớn nhỏ, cách Cửa Đại, Hội An 15km, xưa kia là điểm dừng chân quan trọng của thuyền bè trong “Con đường tơ lụa trên biển Đông”. Trên đảo còn tồn tại nhiều di tích khảo cổ, di tích kiến trúc nghệ thuật… Bên cạnh các giá trị lịch sử – văn hóa, Cù Lao Chàm còn có yếu tố đa dạng sinh học, phong phú về động thực vật biển lẫn núi rừng. Hồ Phú Ninh không chỉ là công trình đại thủy nông, nơi đây còn là vùng sinh thái đa dạng có tổng diện tích trên 23,4 nghìn ha, trong đó diện tích mặt hồ là 3.433ha cùng 30 đảo nhỏ và bán đảo. Vùng rừng phòng hộ có 34 loài thú, 26 loài bò sát, nhiều loại thực vật rừng nhiệt đới, trong đó 14 loại động thực vật được ghi vào sách đỏ Việt Nam…

Trong hệ thống các di tích ở Quảng Nam, các di tích cách mạng có vị trí rất quan trọng trong lịch sử dân tộc. Các di tích Khu căn cứ cách mạng Trung Trung bộ, Căn cứ Đặc khu Ủy Quảng Đà, chiến thắng Núi Thành, chiến thắng Thượng Đức, Bảy dũng sĩ Điện Ngọc, Địa đạo Kỳ Anh, Địa đạo Phú An – Phú Xuân…, là những dấu ấn đậm nét của sự nghiệp giải phóng dân tộc…

Bên cạnh các giá trị văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể Quảng Nam cũng rất phong phú. Những phong tục – tập quán, lễ hội, nghề thủ công truyền thống, văn học dân gian, diễn xướng dân gian, nghệ thuật sân khấu truyền thống, văn hóa ẩm thực… đã thể hiện bản sắc riêng của văn hóa đất Quảng. Từ một loại hình nghệ thuật dân gian, nhờ sự sáng tạo của nhiều thế hệ nghệ sĩ, Hát Bộ (Hát Bội, Tuồng) đã trở thành một bộ môn sân khấu truyền thống, có tính ước lệ cao. Ở Quảng Nam, xưa kia Hát bộ đã trở thành món ăn tinh thần thấm sâu vào tiềm thức của người dân, cứ mỗi dịp xuân kỳ thu tế, các đoàn hát bộ thường được mời về phục vụ dân làng. Nghệ thuật Bài chòi của người dân Quảng Nam và Trung bộ là loại hình trò chơi và diễn xướng dân gian độc đáo được lưu truyền hàng trăm năm nay. Ngày 07.12.2017, tại phiên họp Ủy ban Liên Chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 12 của UNESCO, di sản Nghệ thuật Bài chòi Trung bộ Việt Nam đã chính thức được UNESCO ghi vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Cho đến nay, Quảng Nam còn bảo tồn hàng trăm lễ hội lớn nhỏ ở các địa phương, tiêu biểu ở đồng bằng và ven biển có lễ Kỳ Yên, lễ hội Cầu ngư, lễ tế Cá Ông, lễ Cầu bông, lễ hội Bà Thu Bồn, Rước cộ Bà Chợ Được, Lệ Bà Chiêm Sơn, lễ hội Long Chu, Tết Nguyên Tiêu…  Lễ hội quan trọng nhất mà các dân tộc thiểu số miền núi đều tổ chức hàng năm là lễ hội mừng lúa mới. Đây là lễ hội mừng kết thúc một vụ mùa, có thể xem là lễ hội đầu năm của họ. Mỗi dân tộc có tên gọi khác nhau về lễ hội này, song nó có ý nghĩa chung là tạ ơn Yàng và các thần linh đã giúp đỡ cho dân làng một năm được mùa, bình yên, đồng thời cầu mong những điều tốt lành lại đến trong mùa rẫy sau. Ngoài ra, mỗi dân tộc còn có một số lễ hội tiêu biểu khác như: Ăn trâu huê của người Xơ Đăng; lễ Pơ-truh (mừng chiến thắng), Cha-ca-piêu răng (cúng thần sét) của người Bh’noong (thuộc nhóm Gié-Triêng); lễ Prơ-giê-râm, Paach-gươl, Prơ-ngot của người Cơ Tu… Trong những năm qua, các lễ hội này được bảo tồn và phục hồi khá tốt để phục vụ nhu cầu của nhân dân địa phương và khai thác du lịch.

Trong quá trình lao động sáng tạo, người dân Quảng Nam đã kế thừa và phát triển một số nghề thủ công truyền thống, từ đó hình thành nên các làng nghề nổi tiếng như nghề mộc Kim Bồng (Hội An), mộc Văn Hà (Phú Ninh), gốm Thanh Hà (Hội An), chiếu Bàn Thạch (Duy Xuyên), chiếu Thạch Tân (Tam Kỳ), rau Trà Quế (Hội An), đúc đồng Phước Kiều (Điện Bàn), trống Lâm Yên (Đại Lộc), lụa Mã Châu (Duy Xuyên), … Ở miền núi có các làng dệt thổ cẩm như Công Dồn, Zơra (Nam Giang), sản phẩm của những làng nghề không chỉ được tiêu thụ ở Quảng Nam, một số sản phẩm còn được ưa chuộng ở trong nước, có lúc được xuất khẩu ra nước ngoài…

Việc quản lý, khai thác và bảo tồn tài nguyên văn hóa ở Quảng Nam trong những năm qua đã đạt được những kết quả khả quan. Tại Hội An, công tác bảo tồn, tu bổ và khai thác di tích khu phố cổ đã tạo nên những chuyển biến tích cực trên nhiều lĩnh vực trong đời sống kinh tế – xã hội. Hội An đã thực hiện tốt việc xã hội hóa công tác quản lý, bảo tồn di tích. Cùng với nguồn vốn của Nhà nước, người dân Hội An đã tự bỏ ra hàng chục tỷ đồng để tu sửa các di tích thuộc sở hữu tư nhân. Trong những năm qua đã có gần 100 công trình kiến trúc cổ được gia cố, trùng tu. Công tác quản lý, bảo tồn di tích ở Hội An được đánh giá cao, UNESCO đã trao tặng các giải thưởng như: “Dự án kiệt xuất về hợp tác bảo tồn khu phố cổ Hội An”, “Thành tựu đặc biệt về bảo tồn làng mộc Kim Bồng – Hội An”, giải thưởng “Hợp tác tu bổ các ngôi nhà cổ ở Việt Nam”.

Dự án Quy hoạch tổng thể khu tháp Mỹ Sơn giai đoạn 2008-2020 đã được  Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1915/QĐ – TTg ngày 30/12/2008. Tổng kinh phí đầu tư là 282 tỷ đồng, bao gồm nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước và nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế. Tuy nhiên cho đến nay, sau 10 năm Quy hoạch được phê duyệt, mức đầu tư cho việc tu bổ, tôn tạo di tích Mỹ Sơn còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Ngoài các dự án của Italia do Lerici Foundation thực hiện, chỉ có công trình tháp E7 được đầu tư tu bổ từ nguồn chương trình mục tiêu quốc gia. Hiện nay dự án hợp tác giữa Ấn Độ và Việt Nam đang được triển khai. Để thực hiện đúng tinh thần của các quy hoạch bảo tồn di sản Hội An và Mỹ Sơn đã được Thủ tướng phê duyệt, Chính phủ và Bộ VH,TT&DL cần tăng cường đầu tư kinh phí cho việc tu bổ và tôn tạo các di tích Quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

Ngày 07.7.2015, Hội đồng Nhân dân tỉnh Quảng Nam đã ban hành Nghị quyết số 161/2015/NQ-HĐND về đầu tư tu bổ di tích quốc gia và di tích cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020 với tổng mức đầu tư là 80 tỷ đồng, nguồn kinh phí tuy chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội, tuy nhiên cũng đã cứu vãn được nhiều di tích thoát khỏi nguy cơ bị mai một. Tuy nhiên, để đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của việc bảo tồn và phát huy các di tích của Quảng Nam, cần có thêm nguồn kinh phí đầu tư của Trung ương và vận động các tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia hỗ trợ, đồng thời cũng cần nâng cao năng lực quản lý di sản của cán bộ văn hóa địa phương.

Bên cạnh các di sản vật thể, các di sản phi vật thể cần được tăng cường quan tâm bảo tồn và và phát huy. Những lễ hội, phong tục dân gian phải được lưu giữ và thực hành trong cộng đồng mới có thể tồn tại lâu dài, Nhà nước có cơ chế hỗ trợ về tài chính và định hướng về chuyên môn để tránh biến tướng lễ hội thành hoạt động mê tín dị đoan hoặc thương mại hóa. Các loại hình nghệ thuật truyền thống như Bài chòi, Hát bội đang gặp nhiều khó khăn, chính phủ và các ngành hữu quan đang có những nỗ lực nhằm gìn giữ và phát huy các bộ môn nghệ thuật truyền thống này, tuy nhiên chưa đáp ứng được yêu cầu, cần có sự chung tay của Nhà nước, các mạnh thường quân và cộng đồng để giữ gìn và lưu truyền các giá trị di sản văn hóa quý giá của dân tộc.

Những giá trị văn hóa truyền thống của Quảng Nam cần được tiếp tục bảo tồn và phát huy, góp phần hữu hiệu vào việc xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, đồng thời phải khai thác tốt những giá trị văn hóa ấy trong việc phát triển kinh tế du lịch của địa phương để nâng cao đời sống của nhân dân…

                                                                                                      T.H