Nhân ngày Di sản Văn hóa Việt Nam 23.11: Di sản văn hóa biển Quảng Nam

Quảng Nam là tỉnh duyên hải Nam Trung bộ, có bờ biển dài khoảng 125km. Trên vùng biển Quảng Nam có Cù Lao Chàm gồm 7 đảo lớn nhỏ và Hòn Mang, Hòn Dứa (Núi Thành). Nhiều di tích khảo cổ nằm trong lòng biển, trên các hải đảo và đất liền đã được phát hiện và nghiên cứu, cho thấy vùng biển Quảng Nam nằm trên tuyến đường giao thương giữa các cộng đồng cư dân vùng Đông Nam Á từ thời tiền sử.Trong quá trình lao động sản xuất và sáng tạo, cư dân vùng biển Quảng Nam đã để lại một kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể quý giá.

Theo kết quả của những cuộc khai quật, nghiên cứu khảo cổ học tại vùng ven biển Quảng Nam vào thập niên 80 của thế kỷ XX, các nhà khảo cổ cho biết, cách ngày nay khoảng 6.000 năm đã có những người cổ sinh sống trên vùng đất Quảng. Tại khu vực gò Bàu Dũ, xóm Phú Bình, thôn Phú Trung, xã Tam Xuân I, huyện Núi Thành, các nhà khảo cổ đã tìm thấy hàng chục di cốt người cổ cùng với xương các loài thú, cá biển, vỏ sò điệp cùng với các công cụ đá nằm trong tầng văn hóa. Nghiên cứu các di vật tìm được trong di chỉ, các nhà khảo cổ cho rằng cư dân cổ Bàu Dũ chủ yếu sống dựa vào kinh tế khai thác. Ngoài những loài nhuyễn thểở ven bờ, họ có nhiều kinh nghiệm trong việc đánh bắt cá sông, cá biển, đặc biệt họ có khả năng đánh bắt được những loại cá lớn sống ở vùng biển sâu, kể cả loại có kích thước lớn như bò biển (dugon), cho thấy người cổ Bàu Dũ đã có những phương tiện để di chuyển trên biển. Có thể nói người cổ Bàu Dũ là những chủ nhân đầu tiên ở vùng biển Quảng Nam, có khả năng ra khơi xa tìm kế mưu sinh, họ đã để lại một di sản văn hóa quý giá thời nguyên sơ của cư dân biển miền Trung Việt Nam.

Vào thời đại sơ kỳ kim khí, cách nay khoảng 2.000 – 2.500 năm, ở miền Trung Việt Nam cũng có một nền văn hóa nổi tiếng: văn hóa Sa Huỳnh. Có hàng trăm di tích thuộc văn hóa Sa Huỳnh đã được phát hiện ở nhiều tỉnh thuộc miền Trung và Đông Nam bộ, dấu tích của văn hóa Sa Huỳnh còn có mặt ở một số khu vực ở Tây Nguyên và hải đảo. Cho đến nay, Quảng Nam là tỉnh có số lượng di tích thuộc văn hóa Sa Huỳnh được phát hiện nhiều nhất. Đặc trưng của văn hóa Sa Huỳnh là phương thức mai táng người chết trong các quan tài gốm lớn, người ta chôn theo người chết các loại đồ gốm, công cụ, vũ khí bằng sắt, bằng đồng, nhiều loại đồ trang sức, đặc biệt là các hạt chuỗi mã não và loại khuyên tai hai đầu thú… Người cổ Sa Huỳnh khai thác các loại gỗ quý, trầm hương, ngà voi, sừng tê giác… ở vùng rừng núi phía Tây, là những sản phẩm mà các cư dân cổ Trung Hoa, Ấn Độ rất ưa chuộng. Cùng với gương đồng thời Tây Hán, tiền Ngũ Thù (Trung Hoa), hạt chuỗi mã não, hạt chuỗi khắc axit, đá nephrite có xuất xứ từ Ấn Độ, Thái Lan… đã có mặt trong các di tích mộ táng Sa Huỳnh thì một số sản phẩm đặc sắc của người cổ Sa Huỳnh như khuyên tai 3 mấu, khuyên tai 2 đầu thú đã xuất hiện ở một số nơi ngoài Việt Nam như: đảo Lan Dư (Đài Loan); đảo Palawan, đảo Luzon (Philippin); bản Don Taphet, Uthong, Soankeo (Thái Lan); Samrongsen (Campuchia)… Có thể nói, từ nhu cầu trao đổi với bên ngoài để nhập vào những sản phẩm mà địa phương không có như loại cườm mã não, gương đồng… đã xuất hiện một nền ngoại thương sơ khai. Người cổ Sa Huỳnh giao thương với thế giới bên ngoài qua đường bộ và đường thủy, nhưng thuận lợi nhất vẫn là đường thủy; bằng các loại thuyền bè thô sơ, nương theo các dòng hải lưu của Thái Bình Dương, họ có thể đến được các miền đất khác trong vùng Đông Nam Á, đồng thời thuyền bè của cư dân cổ các vùng khác cũng cập bến một số nơi ở ven biển Việt Nam để trao đổi mua bán các sản phẩm cần thiết. Như vậy, cư dân Sa Huỳnh không chỉ là những người sinh sống bằng trồng trọt, khai thác các loại lâm, thổ sản, họ còn là những người đã vươn ra làm chủ biển khơi, khai thác các loại hải sản. Một số di chỉ cư trú và mộ táng Sa Huỳnh đã xuất hiện ở Cù Lao Chàm (Quảng Nam) và Cù Lao Ré (Quảng Ngãi); tâm thức biển cũng thể hiện rõ nét qua các loại hoa văn trang trí trên đồ gốm Sa Huỳnh như hoa văn sóng nước, răng cá, in mép vỏ sò…

Vào thời kỳ vương quốc Champa, người Chăm cổ là những cư dân giỏi nghề đi biển, họ có lực lượng thủy quân hùng mạnh. Suốt mười mấy thế kỷ tồn tại, người Chăm đã làm chủ biển Đông. Vào những thế kỷ đầu Công nguyên, phương tiện đi lại trên biển rất thô sơ, những chuyến hải hành liên quốc gia thường phải kéo dài trong nhiều tháng; những hòn đảo lớn rải rác trên biển là nơi tàu bè các nước thường ghé lại để nghỉ ngơi, lấy thêm lương thực, nước ngọt, tránh gió bão. Nằm trên trục giao thông đường biển nối liền các trung tâm buôn bán lớn của các quốc gia ở vùng Đông Nam Á và Trung cận Đông, đồng thời cách không xa đất liền, nơi có Đại Chiêm Hải khẩu – cảng biển quan trọng nhất nhì của vương quốc Champa, Cù Lao Chàm là điểm dừng chân rất thuận tiện của thương thuyền các nước, tại đây họ không chỉ dừng chân vì những nguyên nhân như đã nói mà còn có thể  mua thêm những sản phẩm nổi tiếng của xứ Champa như trầm hương, hồ tiêu, ngà voi, đồi mồi, tơ lụa,… Tại bãi Làng, các nhà khảo cổ đã khai quật được nhiều mảnh gốm thời Đường có niên đại khoảng từ thế kỷ VII – X, một số mảnh gốm Islam của vùng Trung cận Đông (khoảng thế kỷ IX-X), nhiều mảnh gốm Chăm, nhiều mảnh của các loại đồ thủy tinh cao cấp có màu sắc rất đẹp, cùng với những hạt chuỗi thủy tinh được chế tác rất tinh vi[1]. Theo các nhà khảo cổ, sự có mặt của các hiện vật nói trên, đã phản ánh quan hệ giao lưu buôn bán quốc tế ở vùng đảo này trong nhiều thế kỷ. Vào khoảng giữa thế kỷ VII, thuyền buôn các nước vùng Tây Á như Ả Rập, Ba Tư… thường xuyên đến Trung Quốc bằng con đường Nam Thái Bình Dương,  mang theo bạc khai thác ở vùng Ba Tư và Ả Rập; trên con đường đó họ đã ghé vào các cảng của Champa trong đó có Cù Lao Chàm để trao đổi mua bán; thuyền Trung Quốc đi đến các nước thế giới Ả Rập hoặc Nam Á cũng dừng chân ở Cù Lao Chàm và cửa Đại Chiêm; những di vật khai quật được từ lòng đất Hội An và Cù Lao Chàm như các loại gốm Islam có nguồn gốc từ vùng Trung Đông, một số loại đồ đựng bằng thủy tinh màu có nguồn gốc từ Tây Á, những hạt chuỗi thủy tinh có nguồn gốc ở Ấn Độ, Thái Lan, Mã Lai… đã chứng minh điều đó.

Trong nhiều thế kỷ, hoạt động hàng hải trên biển Thái Bình Dương rất nhộn nhịp, con đường giao thông trên biển này được gọi là Con đường tơ lụa trên biển hoặc con đường gốm sứ, bởi ngoài những mặt hàng như tơ lụa, hồ tiêu, trầm hương…, gốm sứ là loại hàng hóa không thể thiếu từ Trung Quốc và Việt Nam đi đến các nước Nam Á và Tây Á. Kết quả khai quật khảo cổ học dưới nước ở vùng biển Cù Lao Chàm đã cung cấp thêm nhiều cứ liệu về con đường gốm sứ; qua nghiên cứu con tàu đắm cổ và các di vật trên tàu, các nhà khảo cổ cho biết đây là thương thuyền của Thái Lan cập cảng Vân Đồn vào thế kỷ XV để chở một khối lượng đồ gốm khá lớn của vùng Chu Đậu – Mỹ Xá (Hải Dương) đi xuống phía Nam, ngang qua vùng biển Cù Lao Chàm vì chở quá nặng và có lẽ gặp bão tố nên con tàu này đã bị đắm, và ngày nay, con tàu cổ đắm này đã trở thành di sản văn hóa của vùng biển Quảng Nam. Quan hệ buôn bán giữa Việt Nam và Thái Lan được Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi lại khá nhiều lần: thời Lý (1149,1184), thời Trần 1360), thời Lê Sơ (1467)…[2] Theo GS. Hasebe Gakuji (Bảo tàng quốc gia Tokyo – Nhật Bản), vào thế kỷ XV-XVII, gốm sứ Việt Nam được nhập vào Nhật Bản rất nhiều, người Nhật thời bấy giờ rất thích gốm Chu Đậu. Những thuyền buôn Nhật Bản đến Việt Nam để mua tơ lụa, hương liệu, tạp hóa và một khối lượng lớn đồ gốm, trong đó có nhiều di vật vẫn còn được bảo quản tốt trong các gia đình dòng dõi Shôgun (Tướng quân), Daimyo (võ sĩ)[3].

Những người dân lớn tuổi vùng ven biển xứ Quảng chắc khó thể quên được hình ảnh những chiếc ghe bầu một thời nổi tiếng trên vùng biển Đông, đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc vận chuyển hàng hóa của người Việt ở Đàng Trong, hình thành nghề đi buôn bằng ghe bầu của dân xứ Quảng. Ghe bầu không chỉ hoạt động ở vùng ven biển Việt Nam mà còn vượt biển đến Trung Quốc, Singapore, Mã Lai, Thái Lan… góp phần vào việc hình thành nên Con đường giao thương trên biển Đông. Sau năm 1558, các chúa Nguyễn mở rộng bang giao với các nước phương Đông cũng như phương Tây, thương thuyền các nước Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc thường xuyên ghé thương cảng Hội An để mua bán. Nguồn hàng hóa phong phú của xứ Quảng cùng vị trí thuận lợi trong con đường giao thương trên biển của cửa Đại Chiêm và Cù Lao Chàm, cộng với chính sách mở cửa của các chúa Nguyễn, đã đưa Hội An thành một đô thị thương cảng nổi tiếng từ thế kỷ XVII-XVIII.

Cũng như các cộng đồng cư dân vùng biển Việt Nam, qua tích lũy kinh nghiệm nhiều năm mưu sinh trên biển cả, cư dân vùng biển Quảng Nam đã sáng tạo ra những giá trị văn hóa phi vật thể quý giá. Ngoài những câu ca dao, hò vè về nghề biển, còn có ca dao, tục ngữ về thời tiết giúp ngư dân ra khơi an toàn:

Chiều chiều mây phủ Sơn Chà/ Sóng xô Cửa Đại trời đà chuyển mưa

Chớp phía đông, hồng phía tây/ Ghe câu lên bãi ba ngày nằm chơi

Mống đóng Cù Lao, chẳng mưa chao cũng gió rạp.

Trong quá trình đi biển, nhiều lúc ngư dân gặp bão tố, sóng to gió lớn, được cá Ông (cá voi) nương vào thuyền giúp họ an toàn vào bờ, do đó ngư dân tôn kính cá ông như một vị thần, khi có cá Ông chết trôi dạt vào bờ, họ làm lễ tang và chôn cất rất trang trọng. Cũng như các tỉnhduyên hải miền Trung Việt Nam, vùng ven biển Quảng Nam có nhiều lăng thờ cá Ông gắn với lễ Tế cá Ông, lễ Cầu ngư được tổ chức với ước muốn được bình yên trên biển khơi, thu hoạch nhiều hải sản… Trong các lễ này thường có hát Bả trạo, loại hình diễn xướng dân gian đặc sắc này của cư dân miền biển đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Di sản văn hóa biển Quảng Nam được bồi tụ phát huy qua nhiều thế kỷ, nhiều thời đại, các giá trị văn hóa ấy đã ăn sâu vào tiềm thức của cư dân biển, không chỉ làm phong phú cho đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân mà còn góp phần khẳng định chủ quyền trên vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

H.X.T

[1] Lâm Mỹ Dung và cộng sự. Kết quả thám sát bãi Làng Cù Lao Chàm. Thông báo Khảo cổ học 1998.

 

[2]Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. NXB Khoa học Xã Hội 1985

[3]Đô Thị Cổ Hội An. Kỷ yếu Hội thảo quốc tế .NXB Khoa học Xã Hội 1991