MƯỜI CHẤP – CHUYỆN CHƯA KỂ

“Có một ông nhà văn viết cuốn sách về Mười Chấp, tiếc là lúc đó tôi không được gặp để kể cho ông ấy nghe chuyện này, đặc biệt lắm”. Trong một lần làm bộ phim tài liệu về ông Mười Chấp, tôi đã được ông Nguyễn Túc thổ lộ như vậy. Ông Nguyễn Túc, thường được gọi là Tám Túc, sống tại chợ Trạm, xã Tam Hiệp. Những năm đen tối của cách mạng từ 1956 đến 1959 ông Túc là cán bộ của Huyện ủy Tam Kỳ, trở thành trợ thủ đắc lực cho ông Đỗ Thế Chấp, tức Mười Chấp. Chuyện những năm nằm gai nếm mật ấy, người trong cuộc bây giờ hầu như còn không mấy ai.

Từ phải sang- bà Xuân, người Tam Thanh, bác Mười, bà Lan, ông Mậu Đông

Đầu năm 1956 ông Đỗ Thế Chấp đã được Tỉnh ủy Quảng Nam chỉ định làm bí thư Huyện ủy Tam Kỳ, lúc này gồm cả phần đất Núi Thành, Tam Kỳ và Phú Ninh ngày nay. Ông Mười Chấp cùng với những cán bộ cốt cán của huyện ủy Tam Kỳ như Ngô Độ, Võ Ngọc Hải, Nguyễn Mậu Đông, Lê Cảnh Tuân… kiên cường trụ bám giữ gìn hòn than cách mạng đang trong cơn mưa sa, bão táp. Huyện ủy đóng căn cứ chính ở vùng xã Zút (Tam Trà), phía Tây Kỳ Sanh (Tam Mỹ Tây), ngoài ra còn có các điểm ẩn náu ở giáp ranh Tam Xuân 1 bây giờ để xuống hoạt động ở vùng Đông và Tây Bắc Tam Kỳ. Ông Chấp bảo Tám Túc: “Bọn mình như con cua, mùa tối trời mới ra đi ăn”. Nghĩa là để giữ an toàn mùa sáng trăng họ ở cứ, những ngày không trăng mới đi cơ sở. Và một lần đi cơ sở như thế, ông Tám Túc đã được chứng kiến một câu chuyện phi thường mà Mười Chấp là người đạo diễn và cũng là nhân vật chính.

Ấy là một buổi chiều mùa hè đâu khoảng năm 1958, Mười Chấp cùng Võ Ngọc Hải, Nguyễn Mậu Đông và ông Tám Túc từ vùng Kỳ Trà xuống tới vùng giáp ranh Kỳ Bích, tức Tam Xuân 1 bây giờ. Họ nấp vào bờ rào quan sát động tĩnh thì thấy một toán dân vệ kéo lên, tập hợp đội hình tại một đám đất thổ. Tên chỉ huy đứng trước đám dân vệ đang dàn hàng ngang, chắc là để kiểm tra và phân công nhiệm vụ. Mười Chấp nói: “Bọn bây ngồi đây, để tau ra trị cái đám này một trận”. “Anh đừng giỡn, bọn nó có súng mà”, Võ Ngọc Hải can ngăn. “Mi yên tâm, tau có cách”. Nói rồi Mười Chấp xăm xăm bước ra. Tên chỉ huy dân vệ quay lưng lại nên không hề hay biết gì. Bất thần Mười Chấp hô: “Tất cả, nghiêm. Bỏ súng xuống!”. Quá bất ngờ, tên cầm đầu và cả đám dân vệ líu ríu bỏ súng xuống. “Tất cả bước sang một bên, ngồi xuống nghe nói chuyện”. Khi tất cả đã ngồi yên, Mười Chấp bắt đầu điểm mặt chỉ tên từng đứa, xin nói thêm Đỗ Thế Chấp vốn dân Trường An, chẳng lạ gì đất này. Ông bảo cả bọn rằng mi là con ông A, mi là con bà B…  đều là nhà nghèo khó cả, hồi chín năm kháng chiến chống Pháp được cách mạng chia ruộng, giảm tô, có oán thù gì với cộng sản đâu, sao bây giờ đi phục kích, lùng bắt cán bộ cách mạng. Tuyên truyền đường lối một hồi rồi Mười Chấp bảo thôi về đi, từ nay về sau đừng đi phục bắt gì nữa. “Nhưng xin ông cho chúng tôi đem súng về, mất súng chỉ huy kỷ luật chết!”, tên cầm đầu tốp dân vệ nói giọng run run. “Bây cứ cầm về”, Mười Chấp nói, vẻ thản nhiên như không. Thế mà cả bọn lẳng lặng cầm súng đi về trong bóng tối chiều đã phủ xuống. Kể xong câu chuyện ly kỳ, ông Nguyễn Túc bình luận: “Sống với anh Mười nhiều năm, tôi dám quả quyết rằng ảnh là anh hùng của những anh hùng!”.

Cũng trong lần làm bộ phim tài liệu về Mười Chấp, tôi đã được bà Nguyễn Thị Tiến, vợ của ông Mười kể một câu chuyện khác diễn ra tại Hố Nước, cách không xa đập chính Phú Ninh. Hồi đó vùng này cây cối còn rậm rạp, như lời bà Tiến thì ở đây lúc ấy vẫn còn cọp sinh sống, có lần bà đã giáp mặt. Hố Nước ở giáp ranh xã Kỳ Bích, Kỳ Trà, địch sơ khoáng ít lùng sục, lại có một hố nước nhỏ trong vắt, quanh năm không cạn nên tiện ẩn náu để hoạt động. Cơ sở của ông Mười ở Trường An nhiều, đều là chỗ tin cẩn. Thêm nữa, bà Tiến lúc đó là cô gái đẹp, gan góc khiến ông vấn vương. Nhưng rồi Hố Nước cũng bị địch đưa vào tầm lùng sục. Một lần chúng tổ chức cuộc tảo thanh ba xã, huy động rất nhiều dân vệ tham gia. Rủi thay tối hôm ấy ông Mười cùng Võ Ngọc Hải, Nguyễn Mậu Đông đi công tác ở vùng Đông về, cơ sở cho ít cá. Gần sáng về đến tảng đá lớn, (tảng đá này khi làm đập Phú Ninh đã bị phá lấy vật liệu chỉ còn mỏm bé xíu) nằm bên cạnh Hố Nước, họ bày cơm vắt ra ăn, xong đi ngủ. Thế nhưng không biết ai bất cẩn đã làm rơi một mẩu xương nhỏ. Sáng hôm sau cuộc tảo thanh diễn ra, đám dân vệ khi đến tảng đá phát hiện mẩu xương cá nên triển khai truy lùng. Một nhóm tiến vào cái hố nhỏ tìm kiếm. Vạch cây lá một hồi thì người con trai ông Phố, dân Trường An nói: “Thôi đi ra, đi ra. Chẳng thấy chi hết, chỉ có gai góc tùm lum”. Đám người kéo nhau ra. Sau này mới biết anh… đã thấy một bàn chân thòi ra nhưng lại nói khác đi. Nếu không, bận ấy chắc là huyện ủy Tam Kỳ tổn thất nặng.

Nhưng một điều rất thật là ông Mười Chấp sống rất tình cảm. “Anh Mười rất thương yêu cấp dưới”. Ông Nguyễn Quang Hiệp, nguyên Phó Bí thư Thị ủy Tam Kỳ những năm đánh Mỹ, cũng là một đồng chí thân cận của Mười Chấp lúc còn sống thường nói như vậy. Rằng ông Mười đi công tác, lúc nào được cơ sở cho “miếng chín” cũng đem phần về cho anh em. Có bận đi công tác mùa đông, thấy một người lính rét run cầm cập vì không có áo ấm, ông Mười liền cởi chiếc áo của mình trao cho anh. Một lần chuẩn bị cho trận đánh phối hợp vào nội thị, ông Mười bảo ông Hiệp rằng để ông đi với anh em. Ông Nguyễn Quang Hiệp cản: “Trận này đánh trụ lại ban ngày, chưa biết dường sức ra sao, anh là lãnh đạo cao nhất, đi rủi có chuyện gì thì tổn thất không bù đắp được. Để tôi đi”. Và ông Mười đã ôm người đồng chí thân thiết của mình, nước mắt nhòa gương mặt vốn dạn dày chiến đấu. Bà Hồ Thị Kim Thanh, Phó Bí thư Thị ủy Tam Kỳ năm 1968 cũng kể rằng mỗi khi tổ chức trận đánh trên địa bàn, nếu không đi với anh em là ông Mười Chấp cứ vào ra trông ngóng không yên. Cho đến khi đoàn quân trở về mà thương vong ít thì ông mới yên tâm đi nằm. Các chuyến đi công tác vùng địch hoặc nhiều trận đánh mà ông Mười cùng tham gia với cán bộ chiến sĩ, nếu xảy ra hy sinh, ông Mười Chấp luôn cố gắng tổ chức đưa về, quyết không bỏ xác anh em lại.

Và không ít lần ông Mười đã xông vào chốn hiểm nguy để cứu cấp dưới. Một chuyện như vậy tôi đã được nghe bà Đỗ Thị Minh Lý, hiện ở tại số nhà 57, Lê Lai, Đà Nẵng kể lại. Bà Lý quê  gốc ở Ngọc Mỹ, xã Tam Phú, Tam Kỳ là y tá của Thị ủy Tam Kỳ những năm 1967, 1968. Bà là y tá giỏi nghề, tận tụy của bệnh xá Bắc Tam Kỳ, ông Mười Chấp thấy vậy xin về. Hồi ấy, căn cứ Thị ủy đóng ở thôn 1 xã Kỳ Quế, nay đã thuộc khu vực lòng hồ Phú Ninh. Một buổi sáng bà Lý vừa thăm ca bệnh bên Ban an ninh thị xã, lội qua sông Xà Lang về quần áo còn ướt thì nghe lệnh chuẩn bị di tản vì có triệu chứng địch tập kích, anh em bộ đội ra ven Đồng Cát bố trí đội hình chống càn. Thế nhưng gần đến trưa tình hình vẫn khá im ắng. Ông Mười bực quá văng tục: “Cơ sở báo tin như c … Địch đâu mà địch, thôi xuống sông đánh cá ăn”. Đến trưa đột nhiên pháo Chóp Chài bắn dồn dập xuống Đồng Cát, ngay sau đó từng tốp trực thăng sà xuống nã đạn, đổ quân. Thì ra địch thay đổi quy luật đi càn. Mọi người vác ba lô chạy túa lên núi. Bà Lý chạy một đoạn sực nhớ mình quên ba lô thuốc liền quay lại hầm trèo xuống lấy. Hầm chống pháo khá sâu; mất thuốc, y cụ bị kỷ luật chết. Lên miệng hầm chạy được một quãng thì đã thấy tốp trực thăng đổ quân xong đã bốc lên, nhưng những chiếc khác vẫn quần bắn. Một chiếc sà trên đầu, thậm chí nhìn rõ cả tên Mỹ mặt đỏ gay đang giữ khẩu đại liên. “Vi xi, vi xi” (VC,VC) tên Mỹ hô và xả đạn. Bị một viên cắm vào bắp chân, bà Lý gục xuống, chiếc máy bay quần lại, xả tiếp tràng đạn, lần này trúng vào ngực. Bà Lý nằm, máu bắt đầu chảy tràn ra, lại nghe tiếng dân trụ bám kêu la vì bị lính Mỹ đánh đập. Đang nghĩ phen ni bị bắt thì làm sao để chết, kẻo bọn địch truy xuất quê quán rồi hành hạ cha mẹ cũng khổ. Máu vẫn chảy, nhuộm đỏ chiếc áo màu đen, nếu không bị bắt chắc cũng không sống nổi. Đang lơ mơ nghĩ như vậy thì bà Lý chợt thấy ông Mười Chấp và ông Huỳnh Minh đi dọc giao thông hào tiến lại. “ Em hả Lý? Em hả Lý?”, ông Mười hỏi. Máu trào đầy mũi, miệng, bà Lý không trả lời được chỉ xua tay, ý nói hai người thoát đi kẻo nguy hiểm. Nhưng ông Mười Chấp nói, giọng chắc đanh: “Có chết anh cũng cứu em!”. Thế là ông Mười quàng tay qua nách, ông Minh bị cụt một tay thì ôm đằng chân, khiêng bà Lý đi, hơn cây số mới gặp anh em Thị ủy. Đận ấy bà Lý điều trị mất hơn ba tháng. Ông Mười ra lệnh những thuốc gì quý nhất của cơ sở nội thị Tam Kỳ đưa ra Thị ủy đều chuyển hết lên để bệnh xá Bắc Tam Kỳ điều trị cho bà. Xin kể thêm, cũng trong trận càn ấy, đích thân ông Mười đã cõng ông Bùi Văn Lưu, cán bộ quản lý của Thị ủy bị bắn bể xương bánh chè giấu vào hốc bờ ruộng, kéo cỏ lá ngụy trang, bảo nằm yên đấy, anh em sẽ đến cứu sau rồi đi tiếp và tìm thấy bà Lý. Ông Lưu hiện giờ sống ở Hương Sơn, phường Hòa Hương, thành phố Tam Kỳ. Mỗi khi ôn chuyện thời máu lửa, ông vẫn nhắc nhớ ơn cứu mạng của ông Mười.

Những năm qua tôi đã được gặp khá nhiều đồng đội của ông Mười Chấp và nhận ra rằng ông quả là nhân vật trung tâm của nhiều câu chuyện thú vị. Những hành tung của ông qua lưu truyền của nhiều người trở nên rất ly kỳ. Có chuyện là sự thật trăm phần trăm. Có chuyện do dân gian yêu mến, khâm phục tài trí của ông mà thêu dệt thêm. Ông Lê Đức Dũng, người từng chia sẻ hiểm nguy những năm tháng ấy với ông Đỗ Thế Chấp cho rằng: “Vì nhiều lần bắt hụt Mười Chấp nên bọn địch hay cường điệu hóa rằng anh Mười có phép tàng hình, phi thân bay qua mái nhà, bờ rào, ngọn cây… để thoát nạn. Nhân dân theo đó cũng thêm thắt cho huyền ảo. Thực chất hành động xuất quỷ nhập thần của anh không phải thần thánh như địch rêu rao. Bí quyết của anh là biết dựa vào dân, thông qua cơ sở, mà anh lại có nhiều cơ sở trong lòng địch nên nắm chắc tình hình, có những nguồn tin quý giá. Mặt khác anh rất bình tĩnh, can đảm nên xử lý rất thông minh những tình huống nguy cấp”. Đấy là cội nguồn các giai thoại về một người cộng sản kiên cường đã đi vào tâm thức dân gian. Không phải ai cũng được vinh dự ấy.

H.V