Kỷ niệm 88 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03.02.1930 – 03.02.2018)

MÙA XUÂN, ĐẢNG VÀ LÒNG DÂN

       Đảng Cộng sản Việt Nam đáp ứng được vai trò lãnh đạo, đó là điều đã được lịch sử dân tộc ta trong thế kỷ XX xác nhận. Bằng sự trưởng thành về trí tuệ, sự kiên định, dạn dày về bản lĩnh, bằng sự hy sinh, tận hiến của hàng vạn đảng viên, Đảng đã tổ chức toàn dân đương đầu với những kẻ thù rất hùng mạnh, dẫn dắt dân tộc vượt qua bao nhiêu thác ghềnh cập đến bến bờ độc lập tự do, thực hiện công cuộc Đổi mới đạt được những thành tựu to lớn. Chính tinh thần tiên phong chiến đấu, lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ, nên Đảng đã làm nên “những trang lịch sử bằng vàng”. Đảng ta “là đạo đức, là văn minh”, Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định như vậy, nhưng cũng từ rất sớm, Người đã đề cập đến việc giữ bản lĩnh chính trị và sự trong sáng của Đảng và của cán bộ đảng viên. Ngay trong cuốn Đường Kách mệnh, Người đã nhắc nhở phải “phải giữ chủ nghĩa cho vững”, người cách mạng phải “ít lòng ham muốn vật chất; không hiếu danh, không kiêu ngạo”. Người cho rằng làm cách mạng là công việc to lớn, khó khăn mà đảng viên tự bản thân mình hủ hóa thì còn làm nổi việc gì. Bởi vậy, giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên luôn được Đảng và Bác Hồ quan tâm. Và chính đạo đức cách mạng cao đẹp, tận trung với nước, tận hiếu với dân đã khiến đảng viên cộng sản trở thành thỏi nam châm có sức hút quần chúng mạnh mẽ, và cũng tạo nên tinh thần thép của người cộng sản khiến kẻ địch dùng cực hình tra tấn, dùng tiền tài địa vị… và cả cái chết vẫn không khuất phục được.

Thế nhưng một khi trở thành đảng cầm quyền thì tệ xa rời nhân dân, suy thoái phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị rất dễ nảy sinh. Ngay sau năm 1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã cảnh báo sự xuất hiện của những “ông quan cách mạng” và phê phán nghiêm khắc tình trạng này. Tháng 10 năm 1947, khi cuộc kháng chiến chống Pháp còn ở giai đoạn nước sôi lửa bỏng, dù bận muôn vàn công việc cấp bách, Bác Hồ vẫn giành thời gian viết cuốn Sửa đổi lối làm việc. Trong tác phẩm, Người đã chỉ ra một số căn bệnh đã bắt đầu “nảy nòi” trong hệ thống chính trị và trong cán bộ đảng viên của Đảng. Đó là bện quan liêu mệnh lệnh, xa rời dân chúng, xa rời thực tiễn…“Những bệnh tật đó khiến cho Đảng xệch xoạc, ý kiến lung tung, kỷ luật lỏng lẻo, công việc bê trễ. Chính sách không  thi hành được triệt để, Đảng xa rồi dân chúng. Mắc phải bệnh đó dễ đi đến chỗ để lợi ích cá nhân lên trên, để lợi ích dân tộc xuống dưới”(1). Một khi “xa cách dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại”(2). Và Người cũng cảnh báo rất sớm sự xuất hiện của chủ nghĩa cá nhân mà Người gọi là “thứ vi trùng rất độc” gây nên những căn bệnh nguy hiểm như thói kèn cựa, địa vị, vô kỷ luật, kiêu ngạo dối trá và cuối cùng sẽ dẫn đến sự phản bội đảng, phản bội nhân dân… có lẽ cũng vì rất quan ngại nên năm 1969, không lâu trước khi mất, Người còn viết bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” để nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân kiên quyết đấu tranh phòng chống. Thế nhưng cùng với thời gian, loại vi trùng này ngày càng nguy hiểm. Nó rất khôn ngoan, luôn biết “tái tổ hợp”, thích ứng để tồn tại và sinh sôi. Tất cả các căn bệnh trong nội bộ đảng, trong cán bộ đảng viên, từ nịnh bợ, tham nhũng, chạy chức chạy quyền, suy thoái đạo đức lối sống, suy thoái chính trị tư tưởng… đều có căn nguyên từ thứ vi trùng thâm độc này. Và từ đấy xuất hiện vô thiên lũng những quan chức tham lam, trơ trẽn, nói dối; những vụ án làm suy kiệt nguồn lực đất nước; những vụ “nâng đỡ không trong sáng”… khiến người dân chỉ biết ngao ngán thở dài. Trước thực trạng này càng thấm thía hơn lời cảnh báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân…”

Rất may đã có những tín hiệu sáng sủa trong công cuộc chỉnh đốn Đảng và chống giặc nội xâm. Từ sau Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), đặc biệt những diễn biến gần đây cho thấy Đảng đã rất kiên quyết trong cuộc đấu tranh diệt trừ tham nhũng, diệt nạn chạy chức chạy quyền… Không có vùng cấm, nhiều kẻ quyền cao chức trọng đã bị pháp luật trừng trị. Quyết tâm chính trị của Đảng đã nguyện vọng của toàn dân. Đại biểu Quốc hội  Sùng Thìn Cò (Hà Giang) đã phát biểu tại nghị trường: Tài sản lớn nhất của Đảng, Nhà nước là lòng dân. Nếu chúng ta không trị được giặc nội xâm này thì mất vai trò lãnh đạo của Đảng là vấn đề tất yếu khách quan, chúng ta không trách ai cả, chúng ta chỉ trách chúng ta”. Đó cũng là tiếng lòng của cán bộ đảng viên, của tầng lớp trí thức và người dân lao động bình thường, nó cho thấy lòng dân vẫn trông đợi ở Đảng. Bởi không ai muốn một đảng vĩ đại như thế, giành vinh quang trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm lại đi dần vào chỗ suy vong. Và cũng bởi Đảng Cộng sản Việt Nam hiện vẫn là lực lượng chính trị có đủ năng lực để gánh vác sứ mệnh đưa đất nước ta đến bến bờ phồn vinh, hạnh phúc.

Khởi đầu từ mùa xuân, bằng trí tuệ, bằng bản lĩnh kiên cường Đảng đã lãnh đạo dân ta xóa ách nô lệ, rửa nỗi nhục mất nước. Do vậy có thể xác quyết rằng Đảng đã hồi sinh dân tộc ta, đã đem lại mùa xuân cho đất nước. Chặng đường phía trước dĩ nhiên vẫn rất nhiều cam go, thách thức. Đó là thách thức do sự phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng của sức sản xuất, của nền văn minh nhân loại, thách thức từ các xung lực địa – chính trị quốc tế. Và cuộc đấu tranh chống giặc nội xâm vẫn còn lắm gian nan. Nhưng Đảng ta nhận thức rõ rằng trong nguy cơ, thách thức luôn có thời cơ thuận lợi. Quyết tâm chỉnh đốn Đảng đã được bộ thống soái khẳng định và được toàn dân ủng hộ. Tài sản lớn nhất của Đảng, Nhà nước là lòng dân. Lòng dân – ý Đảng hòa quyện một khối sẽ làm nên sức mạnh vĩ đại đưa Dân tộc ta, Đất nước ta đến Mùa xuân viên mãn.

M.A