* Kỷ niệm 44 năm Ngày giải phóng tỉnh Quảng Nam (24.3.1975 -24.3.2019): Bảo tồn và phát huy di tích điểm đứng chân, căn cứ Tỉnh ủy Quảng Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc

Ngày 28.3.1930 tại Trường lệ, Hội An – Đảng bộ Đảng CSVN tỉnh Quảng Nam đã được

Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tổ chức hội thảo về căn cứ, nơi đứng chân của Tỉnh ủy Quảng Nam giai đoạn 1930-1975

thành lập. Trong thời gian này, Tỉnh ủy Quảng Nam đã hình thành được những điểm đứng chân tại xóm Da, nay thuộc khối phố 5, phường Cẩm Phô. Từ những năm 1932 đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, điểm đứng chân của Tỉnh ủy trải rộng các phủ huyện đồng bằng như Núi Thành, Duy Xuyên, Điện Bàn, Quế Sơn, Hội An. Yếu tố quyết định để Tỉnh ủy chọn những điểm đứng chân là tinh thần yêu nước, sự kiên trung của cơ sở cách mạng nơi đóng cơ quan, bên cạnh đó là sự thuận tiện về giao thông liên lạc để chỉ đạo phong trào. Trong giai đoạn 1930-1945, các điểm đứng chân của Tỉnh ủy có thể tồn tại lâu được một, hai năm hay chỉ trong thời gian rất ngắn trong vài ngày. Dẫu vậy trong số này có những địa điểm đã ghi trong mốc son lịch sử xứ Quảng như Cây Thông Một – nơi thành lập Đảng bộ Đảng CSVN tỉnh Quảng Nam vào ngày 28.3.1930; nhà ông Ung Tòng – thôn Bích Sơn, xã Tam Xuân 2, nhà ông Nguyễn Chiến – thôn Khương Mỹ, xã Tam Xuân 1, Núi Thành – nơi Tỉnh ủy quyết định phát động nhân dân toàn tỉnh khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Trong suốt giai đoạn chiến tranh giải phóng dân tộc từ năm 1945 đến năm 1975, do những giai đoạn phải hoạt động bí mật (như thời kỳ 1954 – 1960), hoặc do tình thế chiến tranh có những địa điểm Tỉnh ủy chỉ đóng một thời gian rất ngắn rồi di chuyển để đảm bảo an toàn, tránh kẻ địch phát hiện lùng ráp hoặc ném bom bắn phá. Nhưng cũng có những nơi Tỉnh ủy đã đứng chân khá lâu. Trong kháng chiến chống Pháp có hai địa điểm nổi bật là vùng Bà Bầu, thuộc xã Tam Anh Bắc, Núi Thành ngày nay và vùng Quế Phương, thuộc thôn 4, xã Tiên Lập, huyện Tiên Phước. Đây là hai nơi Tỉnh ủy đóng cơ quan hoạt động khá lâu, tổ chức các Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ II vào cuối tháng 2 đầu tháng 3 năm 1950 và Đại hội lần thứ III vào tháng 3.1952 cùng các hội nghị quan trọng đưa phong trào kháng chiến trên địa bàn tỉnh giành nhiều thành quả to lớn.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tháng 01.1960 tại địa điểm nằm bên bờ sông A Vương, thuộc thôn A Duân, xã A Roi, huyện Đông Giang, Đảng bộ Quảng Nam nơi tổ chức Đại hội đầu tiên đề ra nhiều biện pháp để đẩy mạnh phong trào đấu tranh vũ trang trong toàn tỉnh. Để đáp ứng tình hình mới, tháng 12.1962 tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng được chia tách thành tỉnh Quảng Nam và Quảng Đà. Do tính chất ác liệt của cuộc chiến, có những giai đoạn Tỉnh ủy Quảng Nam, Tỉnh ủy Quảng Đà (sau là Đặc khu ủy Quảng Đà) phải liên tục di chuyển để đảm bảo bí mật, an toàn. Có những địa điểm Tỉnh ủy đóng trong thời gian ngắn nhưng gắn với những sự kiện quan trọng như; Nà Cau xã Tiên Lãnh huyện Tiên Phước – nơi Tỉnh ủy Quảng Nam tổ chức hội nghị mở rộng, quyết định chia tách Quảng Nam thành hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Đà vào cuối năm 1962… Nhưng cũng có những nơi đã trở thành căn cứ vững chắc và lâu dài của cơ quan lãnh đạo đầu não của hai tỉnh như căn cứ Tiên Sơn của Tỉnh ủy Quảng Nam và Hòn Tàu của Đặc khu ủy Quảng Đà. Đây là những nơi có địa thế chiến lược vô cùng quan trọng của phong trào cách mạng hai tỉnh, ghi dấu những sự kiện lịch sử quan trọng, khắc tạc lòng dân sắt son với cách mạng, với Đảng đồng thời cũng thể hiện tinh thần chiến đấu kiên cường, anh dũng của quân dân xứ Quảng.

Những năm qua việc xác lập hồ sơ khoa học đề nghị công nhận, cắm bia di tích và khoanh vùng bảo vệ các di tích liên quan đến hoạt động của Tỉnh ủy Quảng Nam đã được nhiều địa phương thực hiện tốt. Nổi bật là Hội An, các địa điểm như Cây Thông Một – nơi thành lập Đảng bộ tỉnh, cơ quan bí mật của Tỉnh ủy tại xóm Da thuộc Cẩm Phô; chùa Kim Bửu, vườn bà Thủ Khóa thuộc xã Cẩm Kim đều được cơ quan chức năng và chính quyền thành phố lập hồ sơ đề nghị và đã được công nhận di tích lịch sử cấp tỉnh. Núi Thành cũng là địa phương thực hiện khá tốt công việc này. Các địa điểm rừng Định Phước, chùa Hang; nhà ông Nguyễn Kế, nhà ông Ung Tòng, nhà ông Nguyễn Chiến đều đã trở thành di tích lịch sử cấp tỉnh. Chính quyền các xã có di tích thực hiện tốt trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc, phát huy giá trị các di tích này. Riêng hai di tích quan trọng gồm Hòn Tàu – căn cứ Đặc khu ủy Quảng Đà đã được Bộ VT,TT&DL ra quyết định công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 08.6.2012; ngày 09.7.2014 Tiên Sơn, căn cứ của Tỉnh ủy Quảng Nam tiếp tục được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia.

Khu vực đình Đức Bố, xã Tam Anh Bắc, nơi tổ chức đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ II

Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều địa điểm, theo tài liệu của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy thì có 30 địa điểm mặc dù đã có tài liệu xác định rõ ràng nhưng vẫn chưa được các địa phương tiến hành xác lập hồ sơ để đề nghị công nhận và tiến tới khoanh vùng bảo vệ, cắm bia di tích. Chẳng hạn như tại làng Nghi Sơn, xã Quế Hiệp, huyện Quế Sơn có nhà ông Đoàn Sơ là nơi năm 1941 Tỉnh ủy Quảng Nam, xứ ủy Trung Kỳ đã đóng, in ấn truyền đơn, tài liệu… Hay khu vực đình Đức Bố, làng An Phú, xã Tam Anh Bắc, vào cuối tháng 2 đầu tháng 3 năm 1950 Tỉnh ủy đã tổ chức Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ II. Nhân dân trong xã đã làm tốt công tác phòng gian bảo mật, đào 2 hào giao thông dài hàng trăm mét có khoét các hầm trú ẩn nối ra tới bờ sông… để đề phòng máy bay giặc Pháp oanh tạc. Tại khu vực đình Quế Phương, thuộc thôn 4, xã Tiên Lập, huyện Tiên Phước vào tháng 3.1952, Tỉnh ủy Quảng Nam triệu tập Đại hội đại biểu lần thứ III. Hai địa điểm quan trọng này đều chưa được công nhận di tích lịch sử cấp tỉnh, mặc dầu có nơi như xã Tam Anh Bắc đã rất tích cực xác lập hồ sơ nhưng cấp thẩm quyền ở huyện lại rất chậm trễ. Một số bia di tích ở huyện Đông Giang như làng Đào xã Sông Kôn, bia di tích bờ sông A Vương, xã ARoi tuy được lập nhưng nội dung sơ sài, không chuyển tải hết ý nghĩa sự kiện và không trang trọng. Riêng bia di tích như Làng Đào được dựng sát bờ suối nên không bền vững và trang trọng.

Để bảo tồn, phát huy di tích các điểm đứng chân, căn cứ của Tỉnh ủy Quảng Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc, thiết nghĩ cần làm tốt một số giải pháp sau:

– Khẩn trương xác lập hồ sơ di tích cho các địa điểm đã được xác định rõ ràng trong hồi ký các cụ lão thành cách mạng, trong lịch sử đảng bộ các địa phương. Việc làm này đáp ứng được mong mỏi của nhân dân, cán bộ đảng viên nơi có di tích, làm cơ sở để địa phương làm tốt các hoạt động giáo dục truyền thống.

– Làm tốt việc tôn tạo, cắm bia, khoanh vùng bảo vệ di tích. Trong lĩnh vực này có thể huy động xã hội hóa. Ví dụ con cháu của một số gia đình từng có nhà cửa là nơi Tỉnh ủy đóng trong thời kỳ hoạt động bí mật cũng có nhu cầu để tôn vinh, giữ gìn truyền thống gia đình thì nên có cơ chế để họ cùng góp kinh phí trùng tu. Việc lập bia di tích phải đảm bảo tính khoa học, nội dung, đảm bảo tính thẩm mỹ, trang trọng và bền vững.

– Đối với một vài di tích quan trọng, chẳng hạn di tích Cây Thông Một, nơi thành lập Đảng bộ Quảng Nam cần phải được tôn tạo lại cho xứng tầm, cân nhắc đề nghị di tích lịch sử cấp quốc gia. Với hai di tích lịch sử cấp quốc gia gồm Hòn Tàu và Tiên Sơn, các dịp lễ trọng cần tổ chức nhiều hoạt động về nguồn. Riêng Hòn Tàu với những điều kiện thuận lợi về cảnh quan, khí hậu mát mẻ cần nghiên cứu kết hợp phát triển du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm, khám phá thiên nhiên…

Thực hiện tốt các giải pháp bảo tồn phát huy các di tích lịch sử cách mạng, trong đó có các căn cứ, điểm đứng chân của Tỉnh ủy Quảng Nam sẽ góp phần tích cực vào việc giáo dục lòng yêu nước cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.

H.V