Kỷ niệm 43 năm ngày giải phóng tỉnh Quảng Nam (24.3.1975 -24.3.2018)

KÝ ỨC GIẢI PHÓNG

Tháng 3 năm 1975, tôi mới vừa tròn 10 tuổi thôi, nhưng ký ức những ngày quê hương giải phóng vẫn khắc sâu trong tâm trí và luôn sống động, tươi ròng.

Những ngày đầu tháng 3.1975 trong trí nhớ của tôi vẫn in đậm không khí nóng bỏng. Chiến sự lan ra nhiều nơi. Đứng trên đỉnh núi Chùa  quê tôi, nay thuộc xã Tam Đại, Phú Ninh lũ trẻ chăn bò chúng tôi tò mò nhìn những chiếc phản lực chúi xuống Dương Huê, Tam Dân nhả ra những trái bom đen trũi, rồi khói bom ùn lên đen kịt. Chúng lồng lộn đánh phá nhiều ngày như vậy. Sau này tôi mới hiểu lúc đó ta đã giải phóng huyện Tiên Phước, địch cấp tốc xây dựng tuyến phòng thủ Suối Đá để bảo vệ tỉnh lỵ Tam Kỳ. Việc quân giải phóng gia tăng áp lực khiến chúng càng giãy giụa chống trả. Tiếp đến là trận đánh đồn Tân Lợi thuộc địa phận xã Tam Đại, Phú Ninh quê tôi bây giờ, nơi quân ta vừa mới chiếm lĩnh để bảo vệ cho những cánh quân sẽ theo trục đường Tam Kỳ – Phú Ninh tiến xuống thị xã. Ngọn núi xanh rì qua mấy ngày bom pháo ác liệt đã lở lói và đỏ quạch. Thế nhưng kẻ địch sau nhiều ngày phản kích vẫn không thể tái chiếm được. Một cái vành đai bằng thép đang được siết dần quanh tỉnh lỵ Quảng Tín.

Và cái ngày quê hương giải phóng đã đến. Sáng 24.3.1975 ấy tôi vẫn nhớ tiếng súng nổ râm ran khắp nơi. Rồi xe thiết giáp, xe tăng quân giải phóng theo đường Tam Kỳ- Phú Ninh tiến xuống Tam Kỳ. Lúc ấy tôi không thể biết rằng chiếc xe bọc thép đi đầu đã bị mìn địch bốc cháy tại ngay cầu Bà Ngôn, điểm giáp ranh giữa xã Tam Ngọc và Tam Thái ngày nay, toàn bộ kíp xe hy sinh. Những người lính giải phóng lá ngụy trang che kín hành quân ngang qua xóm. Có người lưng mang chiếc giỏ tre đựng những quả đạn rất lạ, giống cái bắp chuối mà sau này tôi mới biết là đạn B40, B41. Tất cả hối hả, rầm rập. Có thể sẽ đánh nhau to, những người lớn tuổi bảo vậy và đám trẻ con chúng tôi được đưa lên những gộp đá trên ngọn núi sau làng để trú ẩn. Đến xế trưa thì tình hình có vẻ yên ắng, tôi chạy về thì thấy căn nhà tranh đã đổ nát. Rất may cả nhà đã kịp rời đi trước khi thần chết giáng sấm sét xuống. Suốt mười năm chiến tranh, căn nhà nội – như là một chứng nhân đã chứng kiến biết bao biến động, đau thương của gia đình tôi, thế nhưng nó đã không còn được sẻ niền vui với chúng tôi khi ngày hòa bình đã chạm ngõ.

Giải phóng, hòa bình – một cảm giác thật khó tả, hân hoan nhưng bỡ ngỡ; người ta trông đợi nó thiết tha nhưng khi đến vẫn thấy lạ lẫm, bàng hoàng. Có lẽ bởi chiến tranh đã quá dài, đã mất quá nhiều xương máu, và đã rất nhiều cố gắng nhưng tiếng súng vẫn chưa yên. Dòng họ tôi dường như đã cạn nguồn nhân lực, tất cả đàn ông đã lên núi, đã ngã xuống gần hết; ở lại làng chỉ có người già, đàn bà và đám trẻ con chúng tôi. Thỉnh thoảng những người dân vô tội trong làng khi đi cuốc ruộng, hái củi lại bị chết, què cụt chân tay vì vướng mìn, lựu đạn và những loại đạn bắn đi nhưng chưa kịp nổ … Thảm thương hơn khi có người ban đêm ngủ trong nhà bị chốt đèn pháo sáng rơi xuyên qua mái tranh đập vào đầu, chết mà không kịp hiểu vì sao. Bởi vậy dân làng tôi hồi đó chỉ có một ước vọng cháy bỏng: “Trông cho đến hòa bình, về lại làng cũ trải cái nong ra nằm nhìn trời là sướng rồi”. Và hôm nay hòa bình đã đến thật, nhanh ngoài sức tưởng tượng.

Giải phóng. Ngay trong trưa hôm ấy chị họ tôi cùng Đội công tác  của xã trở về. Đội mũ tai bèo, lưng khoác cái bòng (túi khoác) con, tay cầm chiếc loa pin trông chị dày dạn hẳn lên so với mấy năm trước, khi chị còn chưa “nhảy núi”. Chị để lại một mối tình đã làm lễ hỏi và xăm mình vào nơi lửa đạn, rất may còn được trở về. Sau này chị kể những ngày ấy rất bận rộn, tham gia ban quân quản chị phối hợp với bộ đội để chôn cất các chiến sĩ xe tăng bị mìn hy sinh; phát loa kêu gọi những người lính, người cộng tác với chính quyền cũ ra trình diện; … Chị còn phải điều trị cho một người lính ngụy bị thương nặng nhưng rồi người ấy không qua khỏi.

Những ngày giải phóng, ký ức trong tôi vẫn thật hân hoan. Dân trong làng rùng rùng kéo nhau đi phá “ấp chiến lược”. Mười năm, nó là một trại giam tra hình, dân làng tôi ngày hai buổi đi làm về phải qua cái cửa kiểm soát ấy; nếu về muộn sẽ bị cho ở ngoài và phải lạy lục, van xin chí chết mới được vào. Chim lồng cá suốt chậu mười năm, giờ mọi người hăm hở đi tháo hàng rào kẽm gai, nhổ cọc sắt, cọc tre… đã giam hãm họ bao nhiêu năm. Ào ào như sôi, đến mức không ai nghĩ có thể sót lại những thứ giết người đã từng được gài trong ấy, nếu quả vậy thì thật tai họa.

Những ngày giải phóng, các đơn vị bộ đội, đoàn cán bộ về đóng trong làng ngay lập tức trở thành những người thân thiết, thân thương như đã gắn bó từ lâu. Những bữa cơm dọn ra trên chiếc nong trải dưới đất, tôi lạ lẫm với cách ăn cơm bằng đũa hai đầu. Với những người đã sống trong vùng tự do hồi 9 năm đánh Pháp thì đến bây giờ họ mới được sống lại tập quán xưa. Có ai đó ngâm nga: “Ăn cơm bằng đũa hai đầu. Lấy chồng bộ đội, cháu dâu Bác Hồ”.

Chiến sự vẫn xảy ra ở đâu đó, xa lắc mà cỡ tuổi tôi vẫn chưa hiểu gì, chỉ thấy mọi người thường tụ tập quanh chiếc radio để nghe tin tức. Rồi một buổi trưa người lớn xôn xao chuyện tổng thống ngụy quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu từ chức, chạy ra nước ngoài. Rồi tin Sài Gòn được giải phóng loan ra, vỡ òa niềm vui chiến thắng.

Hòa bình đã chính thức đến rồi, không còn là điều mơ ước bao năm trông ngóng, khắc khoải nữa. Dân làng tôi náo nức giúp nhau tháo dỡ nhà cửa, gồng gánh đồ đạc trở về quê cũ. Cứ luân phiên, hết nhà này đến nhà khác. Ông nội họ tôi, trưởng tộc đặt cái hòm gỗ sơn đỏ chứa gia phả vào đôi trạc (đôi quang gánh bằng tre) tòng ten gánh về. Bao nhiêu năm lửa đạn ông sống chết giữ cho bằng được bảo vật ấy của dòng họ. Có lẽ ông đang trải qua những giờ phút sung sướng nhất trong đời chăng, một cuộc đời đã  nếm trải quá nhiều khổ nhục, thương đau; từ cái thuở Pháp thuộc sưu thuế nặng nề, rồi những năm tù đày, trần lưng chịu đựng đòn roi Mỹ ngụy, nhà tan cửa nát vì gia đình liên can cộng sản. Mấy hôm trước đứa con trai út trên cứ vừa về thăm, hai cha con ôm nhau nước mắt nhòa mặt. Và không lâu nữa ông sẽ lại gặp người con trai đi tập kết ra Bắc, xa nhà đã tròn 20 năm. Trên những mảnh vườn cây cỏ mọc um tùm vì thưa vắng bàn tay người vun xới giờ mọc lên những mái nhà đã dãi dầu qua chiến tranh nhưng nền đất mới đắp tươi rói. Đất đai quê hương tôi bao nhiêu năm đạn bom chà xát, máu tươi nhộm đỏ vẫn nhẫn nại, kiên cường chịu đựng, giờ hoan ca trong ngày đoàn tụ. Vụ gặt năm ấy được mùa, bát cơm gạo mới thơm nắng tháng ba. Vừa mới đông xuân cách một năm trước thôi, những đàn châu chấu không biết từ đâu ùn ùn kéo về ăn rụi lúa má, chiều chiều cả làng kéo đi xua đuổi nhưng không xuể. Người ta kháo nhau: chắc là điềm báo có đại sự. Mà quả vậy thật.

Sau những xáo trộn lớn lao, cuộc sống cũng dần ổn định. Trường lớp mở lại, chúng tôi tiếp tục năm học bị gián đoạn; nhiều thầy cô giáo mới vốn là thanh niên trong xã đang học trung học phổ thông được đào tạo cấp tốc. Những bài học mới lạ. Và khắp trường vang lên bài “Như có Bác trong ngày vui đại thắng”; bài hát có những cụm từ mà cỡ tuổi chúng tôi chưa hiểu hết, nhưng vẫn hát say sưa.

H.V