* Kỷ niệm 128 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19.5.1890-19.5.2018): Tài ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Giai đoạn 1945-1946 được coi là những năm tháng cực kỳ gian nguy của cách mạng Việt Nam mà nói như Đại tướng Võ Nguyên Giáp là “con thuyền cách mạng băng qua những thác ghềnh”. Bởi đấy là lúc nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa còn non trẻ cùng lúc phải đương đầu với những xung lực quốc tế, cả Tây lẫn Đông. Thực dân Pháp với sự trợ giúp của Anh, sự gật đầu của Mỹ đã quay lại Đông Dương quyết lập lại trật tự thuộc địa. Quân Tưởng Giới Thạch mưu đồ chiếm miền Bắc, lập nên chính phủ thân Tưởng để kiếm lợi lâu dài. Trong bối cảnh như vậy Đảng ta dưới sự dẫn dắt của thiên tài Hồ Chí Minh đã hóa giải tất cả các hiểm họa ấy. Đề ra những sách lược tài tình để làm thất bại các toan tính của kẻ thù, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có những ứng xử đời thường rất khôn khéo, sắc sảo góp phần đưa các sách lược chính trị, ngoại giao đạt được thành công.

Jean Roger Sainteny là một thiếu tá tình báo Pháp trong chiến tranh Thế giới thứ hai, ngay sau đó trở thành chính khách có vai trò quan trọng trong quan hệ Pháp – Việt lúc bấy giờ cũng thừa nhận phong thái giản dị của Hồ Chí Minh: “Ông thường mặc bộ đồng phục kaki màu sáng, thường gọi là bộ “đại cán” nhưng không ủi và ít khi ông cài khuy cổ. Chân ông thường đi đôi giày vải Vân Nam hoặc dép thuộc loại “dân nghèo”. Rõ ràng ông không quan tâm đến trang phục bên ngoài”. Sự giản dị trong ăn mặc của vị Chủ tịch nước như Người đã thể hiện trong suốt cuộc đời mình, không phải là cách mị dân, “đánh bóng” hình ảnh mà là một đức tính tự nhiên của Người. Ngày 02.9.1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất hiện trước quốc dân Việt Nam với bộ kaki và câu nói giản dị: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” đã tạo nên hình ảnh vị lãnh tụ rất gần gũi. Lối ứng xử giản dị, thoải mái, không kiểu cách của Hồ Chủ tịch không chỉ hấp dẫn các tầng lớp nhân dân Việt Nam mà còn có sức truyền cảm ngay với cả đối thủ.

Như lịch sử đã ghi, thực thi nhiệm vụ Đồng Minh giao là giải giáp quân Nhật, Lư Hán, Tiêu Văn đưa 20 vạn quân vào miền Bắc. Các tổ chức lưu vong Việt Nam độc lập đồng minh hội, Việt Nam quốc dân đảng cũng được chúng đưa về để toan tính lập chính phủ bù nhìn. Các tên tướng quân Tưởng liên tục sách nhiễu, gây sức ép cho ta, đòi giải giáp quân đội của ta… Chủ tịch Hồ Chí Minh một mặt kiên quyết đấu tranh, đồng thời dùng các thủ thuật ngoại giao thích hợp để ứng phó. Do hiểu rõ tính nết, vị thế, tương lai chính trị của các tên tướng cao cấp của Tưởng ở Việt Nam như Lư Hán, Tiêu Văn nên Người có cách ứng xử thích hợp để giảm sự chống phá của chúng. Khi Tiêu Văn vừa đến Hà Nội đặt đại bản doanh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tự động đến thăm, nói chuyện rất thân mật khiến viên tướng này bớt gây hấn; mối quan hệ thân thiện này còn được Hồ Chủ tịch sử dụng để xử lý êm đẹp các mắc mứu với quân Tưởng sau này. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn biết rõ những sĩ quan cấp thấp trong quân đội Tưởng nhưng có vợ đẹp, tiêm thuốc phiện khéo nhờ vậy quen biết với các chỉ huy cao cấp. Từ đó, Người chỉ đạo cán bộ ngoại giao tranh thủ những tên này để giải quyết các nhiệm vụ quan trọng khác. Trong cuốn Những năm tháng không thể nào quên Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại: “Với sự nhạy cảm lạ thường, Bác dường như hiểu rõ mọi trạng thái tư tưởng, tình cảm của kẻ thù. Bác vận dụng một cách vô cùng sắc bén những đối sách cụ thể với từng loại kẻ địch, với từng tên… Đứng trước Bác, dường như chúng cũng bớt hung hãn đi nhiều”(1). Nhờ những đối sách khôn khéo như thế, sức mạnh của 20 vạn quân Tưởng đã bị vô hiệu hóa.

Bên cạnh việc đối phó với quân Tưởng, ta còn phải tiến hành cuộc kháng chiến ở miền Nam để chống lại quân Pháp tái chiếm Nam Bộ từ tháng 9.1945. Trước sức kháng cự của quân dân ta, thực dân Pháp tuy chấp nhận ký Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946 nhưng vẫn âm mưu mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Việt Nam. Cuối tháng 5 năm 1946, chính phủ ta cử một phái đoàn ngoại giao sang Pháp để thương thảo ký một Hiệp định chính thức, tìm giải pháp lập lại hòa bình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đi với tư cách thượng khách của nước Pháp. Thời gian ở Pháp, Người đã có nhiều hoạt động tỏ rõ thiện chí, khẳng định dân tộc Việt Nam luôn thiết tha yêu hòa bình. Đến thăm bãi biển Noóc – măng – đi nơi quân đồng minh đổ bộ lên giải phóng nước Pháp năm 1944, Người đã lấy bàn tay bịt miệng một khẩu pháo được trưng bày. Trong bút ký khi Người đến viếng đài liệt sĩ Va lê riêng, thủ đô Paris, nơi an táng các du kích Pháp bị phát xít Đức hành quyết: “Trông thấy nghĩa sĩ Pháp vì độc lập tự do mà bị người Đức tàn sát, khiến cho người thêm cảm động, ngậm ngùi. Quyền độc lập tự do ở nước nào cũng vậy, đều do xương máu của những nghĩa sĩ và đoàn kết của toàn quốc mà xây dựng nên. Vậy nên những người chân chính ham chuộng độc lập, tự do của nước mình thì phải kính trọng tự do của dân tộc khác”(2). Qua dòng chữ này Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở các chính khách thực dân phải tôn trọng quyền độc lập của các dân tộc khác, đồng thời qua đó khẳng định quyền chiến đấu để bảo vệ nền độc lập của dân tộc Việt Nam.

Cũng trên con đường từ Pháp trở về Việt Nam sau khi ký kết Tạm ước 14.7.1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cho thấy lối ứng xử rất bình dị nhưng cũng rất sắc sảo, thâm thúy. Chiến hạm đưa Người trở về là tàu Dumont d’Urville do hạm trưởng O’neill chỉ huy. Viên hạm trưởng chỉ thị cho quản trị trưởng cử người chăm lo cho vị thượng khách của nước Pháp. Nhưng người phục vụ báo cáo lại rằng vị Chủ tịch nước ấy chỉ có 2 bộ quần áo và cho biết Người tự giặt giũ lấy mọi thứ, không làm phiền ai. Câu chuyện lan ra cả hạm tàu làm cho sĩ quan và binh lính rất cảm phục. Sĩ quan và binh lính, thủy thủ tàu Dumont d’Urville về đến Hải Phòng sau đó được Hồ Chủ tịch chỉ thị cho chính quyền sở tại hoan nghênh, giúp đỡ họ, sau đó còn được Người mời lên Hà Nội tiếp đón rất trọng thị, tặng quà. Ngày 21 và 22.11.1946 khi quân Pháp ở Hải Phòng được lệnh bắn phá thành phố thì chính hạm trưởng O’neill lệnh cho quân lính của ông bắn ra cánh đồng ngoại ô. O’neill sau đó từ chối chỉ huy hải quân Pháp ở Hải Phòng và trở về Pháp.

Và cũng trên chuyến tàu này Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cho thấy lối ứng xử rất sắc sảo, thâm thúy. Khi tàu Dumont d’Urville về tới cảng Cam Ranh, d’Argenlieu, Cao ủy Đông Dương ở Đông Dương, lúc ấy tổ chức đón tiếp và mở tiệc chiêu đãi. “Bác ngồi giữa, một bên là viên đô đốc hải quân Pháp ở Thái Bình Dương, một bên là thống soái lục quân Pháp Viễn Đông. d’Argenlieu cười giọng mỉa mai, bóng gió: “Thưa Chủ tịch, Chủ tịch đang bị đóng khung giữa lục quân và hải quân đó. Viên Cao ủy cố nói kiểu nhát gừng, tách riêng và nhấn mạnh những từ “đang bị đóng khung”. Nói xong tên cáo già và cả bọn cười khoái chí. Bác thản nhiên mỉm cười và trả lời bằng tiếng Pháp: “Nhưng mà, đô đốc biết đó, chính bức tranh mới đem lại giá trị cho cái khung”. Cả bọn quan quân thực dân có mặt hôm đó bị một vố bất ngờ ngồi lịm đi và cũng từ đó chúng không dám giở trò chơi chữ với Bác. Câu chuyện thú vị này được giáo sư, bác sĩ Trần Hữu Tước, người chứng kiến sự kiện kể lại trên tạp chí Văn nghệ số ngày 2.9.1972(3). Giai đoạn 1945-1946 cho thấy năng lực ứng xử đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh: tinh tế, khôn khéo nhưng vẫn rất chân thực. Với năng lực ấy, Người đã quy tụ được tất cả các tầng lớp nhân dân, thu hút được nhiều nhân tài, không kể đảng phái, tôn giáo cùng ra giúp nước. Rất nhiều người không có Đảng vẫn được trọng dụng. Nhiều trí thức, nhất là những trí thức ở nước ngoài có cuộc sống hoa lệ đã từ bỏ tất cả về tham gia kháng chiến cứu nước mà tiêu biểu là Trần Đại Nghĩa. Đặc biệt cụ Huỳnh Thúc Kháng, người ban đầu có thái độ phân vân khi được mời tham gia chính phủ, nhưng chỉ một cuộc gặp gỡ với Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận lời. Trí tuệ và sự khiêm cung của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thuyết phục được Cụ Huỳnh; Cụ tâm đầu ý hợp đến mức đã tự thán “Gặp người tri kỷ thôi ta đã già”. Cụ Huỳnh đã trở thành phái viên đặc biệt của Chính phủ tại Nam Trung Bộ, đi đến đâu Cụ cũng hết lòng ca ngợi tài năng của Hồ Chủ tịch và các cộng sự như Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp… Tiếng nói của Cụ Huỳnh có tác dụng rất lớn trong việc quy tụ lòng dân quanh chính phủ kháng chiến của Hồ Chí Minh.

Những người từng một lần được gặp Bác Hồ đều thừa nhận rằng họ bị chinh phục bởi sự ứng xử hấp dẫn của Người. Phong cách ứng xử ấy toát lên từ trí tuệ sắc sảo, từ tấm lòng yêu nước thương dân, từ lòng yêu thương con người sâu sắc của Người. Có thể khẳng định mà không sợ ngoa ngôn rằng tài ứng xử đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những nguyên nhân quan trọng đưa cách mạng Việt Nam giải các nguy cơ bên ngoài, thêm bạn, bớt thù, đi đến thắng lợi mà giai đoạn 1945-1946 là một minh chứng đặc sắc.

                                                                   H.V

Chú thích:

[1]Những năm tháng không thể nào quên. Nxb Quân đội Nhân dân. Hà Nội 2001, tr 89-90.

2 Sách đã dẫn, tr 271.

3 Dẫn lại sách Con đường vạn dặm của Hồ Chí Minh, NXB Trẻ, 2007, tr 409.