Đèo Bù Lạch – Dấu ấn đường Trường Sơn – Hồ Chí Minh

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đường Trường Sơn – Hồ Chí Minh là một trong những kỳ tích vĩ đại trong lịch sử chiến tranh giải phóng dân tộc. Tuyến đường huyền thoại đó không chỉ là tuyến giao thông huyết mạch nối liền hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam.

Đèo Bù Lạch thuộc địa phận xã A Nông, huyện Tây Giang, phía Đông giáp núi Alu, phía Nam giáp suối Vir, phía Tây giáp núi KaLo – KaLum, phía Bắc giáp cột mốc 678 – phân giới hai nước Việt Nam – Lào, nằm trong vùng đệm thuộc khu rừng phòng hộ đầu nguồn Bắc sông Bung, là nơi địa hình khá hiểm trở, có nhiều hang đá, đường quanh co khó đi, một bên là vách núi, một bên là vực thẳm, chênh vênh giữa núi cao, rừng thẳm, đường độc đạo. Nằm ở vùng Nam Trung Bộ, Quảng Nam có vị trí chiến lược quan trọng. Năm 1965, chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ bị phá sản, chính quyền Sài Gòn bị khủng hoảng, cách mạng miền Nam đứng trước thời cơ. Trước tình hình mới, tháng 6 năm 1966, Đảng ủy Bộ Tư lệnh 559 và Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần báo cáo kế hoạch mùa khô năm 1966 – 1967 lên Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, dự tính nhu cầu vận chuyển từ tháng 11 năm 1966 đến tháng 10 năm 1967. Nhằm tăng cường phục vụ chiến dịch, đầu tháng 12.1966, Trung ương quyết định mở tuyến vận tải từ ngã ba biên giới qua Tây Nguyên để chuyển vũ khí cho Nam Bộ, từ A Túc vào Bù Lạch. Kế hoạch mở đường từ A Túc đi Bù Lạch được khẩn trương làm gấp trong mùa khô năm 1967. Bộ Tư lệnh 559 cử Phó Tư lệnh Nguyễn Tường Lân và Phó Tham mưu trưởng công binh Lê Nam Hải vào trực tiếp chỉ đạo, khảo sát và thi công.

Cuối năm 1966, Mỹ bắt đầu cuộc phản công chiến lược nhằm “tìm diệt” quân chủ lực, đánh phá căn cứ kháng chiến của ta và “bình định” mở rộng vùng kiểm soát. Với nhiệm vụ đảm bảo phục vụ cho chiến trường miền Nam, Bộ Quốc phòng và các Tổng cục đã khẩn trương bổ sung lực lượng, phương tiện cho Đoàn 559, tăng cường nhiều cán bộ có kinh nghiệm vào vị trí chủ chốt ở Bộ Tư lệnh Đoàn và các Binh trạm. Từ tháng 02.1967, địch tăng cường đánh phá ác liệt, sử dụng lực lượng biệt kích, thám báo phá hoại ở mặt đất, dùng trực thăng đổ bộ đánh chiếm những vị trí quan trọng như ngã ba La Hạp và những nơi tiếp giáp với chiến trường. Phối hợp với chiến dịch vận chuyển trên tuyến 559, Tư lệnh Đoàn 559 – Đồng Sỹ Nguyên đã chỉ đạo Binh trạm 12 thuộc Tổng cục Hậu cần tiền phương tập kết nhanh hàng vào Tổng kho 050 và dùng một số chuyến xe đưa thẳng hàng vào Lùm Bùm, tạo điều kiện vận chuyển vượt đường 9 đưa hàng về điểm tập kết tại các khu vực Bù Lạch, động Con Tiên, La Hạp, Bạc để tiếp tục vận chuyển cho Khu V, Trị – Thiên, đáp ứng các yêu cầu về bảo đảm cho bộ đội hành quân trong mùa mưa và dự trữ cho các lực lượng ở lại làm nhiệm vụ chiến đấu.

Sau nhiều năm khai phá, đường cơ giới được mở từ A Túc đến Bù Lạch. Đoạn đường này đi vào thung lũng A Chiêng Chăn vùng núi A Dai Nhơ, từ đó liên tiếp leo dốc theo sườn núi qua động Con Tiên, động Tam Bôi, vượt qua “Dốc Con Mèo” cao 630 mét rồi lao xuống Hà Tia, theo dãy thung lũng Tây Trị Thiên dài gần 100 km qua A Lê Thiêm, A Lưới, Ta Bát đến A Sầu, Bù Lạch. Địa hình A Túc đến La Đụt dốc cao, vực sâu hiểm trở, đường độc đạo rất hẹp, xe chỉ đi được một chiều, nền đường lầy bùn khi có mưa. Từ Tây Trường Sơn vượt qua Đông Trường Sơn, thời tiết nắng ít mưa nhiều, đồng bào vùng này gồm các dân tộc Vân Kiều, Pa Cô, Cơ Tu tuy đời sống còn đói khổ nhưng rất hăng hái tham gia dân quân du kích, diệt biệt kích, bắn trực thăng vũ trang của địch, xung phong đi dân công chiến trường.

Ngày 14.7.1967, bộ phận chỉ huy tiền phương của Binh trạm 2 do Phó Chính ủy Nguyễn Lạn phụ trách đặt tại kho S4C gần Chỉ huy sở Binh trạm 7 bị địch đánh gần chục đợt B52, hy sinh hơn 50 người. Trước tình hình đó, Binh trạm 7 quyết định lợi dụng những nơi trống trải, huy động đào địa đạo sâu vào lòng núi để ăn ở, sinh hoạt và làm việc. Nhờ đó sau một tháng, trên cung gùi bộ từ A Túc đến Bù Lạch, rồi từ Bù Lạch vào A Yên các đơn vị Tiểu đoàn 6 Bắc Sơn vẫn giữ được hoạt động vận chuyển. Dù địch đánh phá ác liệt, bị ốm đau, thiếu đói nhưng vẫn kiên cường vừa gùi hàng, vừa chiến đấu. Có thời gian cán bộ chiến sĩ mỗi ngày chỉ được cấp 3 lạng gạo nhưng không hề chạm đến hàng của chiến trường, ốm dậy là đi gùi hàng, ăn cháo vẫn cố gắng đảm bảo chỉ tiêu mang vác, mưa thì lấy vải mưa che hàng còn thân thể chịu ướt. Cứ như vậy bền bỉ phục vụ ngày này sang ngày khác. Đến tháng 10 năm 1967, Binh trạm 7 giao cho Khu V được 690 tấn hàng, giao cho mặt trận Trị – Thiên 243 tấn, hoàn thành kế hoạch cả năm 1967, được Bộ Tư lệnh và Tổng cục Hậu cần đánh giá xuất sắc và đề nghị Bộ Quốc phòng tặng Huân chương Quân công hạng 3.

Ngày 19.4.1968, địch mở cuộc hành quân nhằm tiêu diệt chủ lực của ta, ngăn chặn ta vận chuyển và cơ động binh khí kỹ thuật cho mặt trận Thừa Thiên – Huế. Ngay sau khi địch vừa đổ quân, lực lượng công binh, pháo cao xạ, bộ binh, kho, thông tin, giao liên các Binh trạm đã chặn đánh quyết liệt, tiêu diệt nhiều sinh lực địch và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng. Bộ Tư lệnh Đoàn cử phó Tư lệnh Lê Đình Sum xuống Binh trạm chỉ đạo tác chiến, cơ động 2 Tiểu đoàn bộ binh đến tham gia đánh địch bảo vệ khu Hà Tía, A Lưới, chặn đánh nhiều cuộc càn quét, diệt hàng trăm tên địch, yểm trợ cho việc sơ tán kho, tăng pháo ở khu vực này chuyển về Bù Lạch, A Yên. Ngày 16.5, địch rút khỏi khu vực A Sầu, A Lưới chấm dứt cuộc hành quân. Trước khi rút chạy, địch gài mìn để ngăn cản hoạt động của ta, đêm 21.5 đoàn xe vận chuyển từ động Con Tiên vào La Đụt bị trúng mìn, 5 xe bị phá hủy, 11 chiến sỹ hy sinh. Đến ngày 27.5, đường vận chuyển từ động Con Tiên vào A Lưới – Bù Lạch – A Yên mới thông suốt. Sau đó, việc cơ động sang đông Trường Sơn để mở đường từ Ba Hi đi Làng Ngòi và từ Bù Lạch đi A Dớt tạm ngừng do địch mở cuộc hành quân lớn ở khu vực A Sầu – A Lưới. Lúc này, Đại đội 634 bộ binh ngày đêm bám sát địch truy lùng đánh hơn 20 trận, tiêu diệt gọn một toán biệt kích Mỹ, tiêu hao nhiều toán khác, bắn rơi 3 trực thăng vũ trang. Đại đội 4 súng máy 12,7 ly – đơn vị anh hùng cơ động phục kích đánh địch ở động Con Tiên bắn rơi 1 chiếc F105 và 1 chiếc F4. Những ngày sau, tại dốc Chè (La Đụt), Đại đội liên tiếp bắn rơi 1 trực thăng vũ trang, 1 máy bay trinh sát L19. Cuối tháng 3, Đại đội chuyển vào vùng A So bảo vệ ngầm km 71 -73, Chính trị viên Đại đội Phan Văn Nhật trực tiếp chỉ huy bắn rơi 1 chiếc B57.

Giữa năm 1968, đường cơ giới được mở từ A Túc đến Bù Lạch và tiếp đó, đoạn Bù Lạch – Trao đã được khai thông với mặt đường 4 mét. Đoạn đường này đi vào thung lũng A Chiêng Chăn vùng núi A Dai Nhơ, từ đó liên tiếp leo dốc theo sườn núi qua động Con Tiên, động Tam Bôi, vượt qua “dốc Con Mèo” cao 630 mét rồi xuống Hà Tia, theo dãy thung lũng Tây Trị Thiên dài gần 100 km qua A Lê Thiêm, A Lưới, Ta Bát đến A Sầu, Bù Lạch. Địa hình A Túc đến La Đụt dốc cao, vực sâu hiểm trở, đường độc đạo rất hẹp, xe chỉ đi được một chiều, nền đường dễ lầy bùn khi có mưa. Từ Tây Trường Sơn vượt qua Đông Trường Sơn, thời tiết nắng ít mưa nhiều (mưa 9 tháng thì nắng 3 tháng), phía Tây nắng thì phía Đông mưa và ngược lại. Già làng ALăng Đàn, năm nay đã hơn 70 tuổi, một cựu du kích nhớ lại: Sau khi phát hiện ra ta mở đường từ A Lưới đi Bù Lạch, Mỹ cho máy bay đánh phá ác liệt, tại vị trí chân đèo Bù Lạch có một bệnh viện lớn của Bộ đội Trường Sơn và các trạm, các kho hàng, vũ khí, quân trang, lương thực vận chuyển từ đất bạn Lào về để cung cấp cho chiến trường; tại km 8 (từ Km 418+700 đường Hồ Chí Minh nhánh Đông) đến chân đèo Bù Lạch – cột mốc 678), bên trái đường là một khu vực đất rộng bằng phẳng trong chiến tranh là trạm dừng chân, bãi đỗ xe, ở phía dưới là một thung lũng có bãi khách, kho hàng, trạm quân y Đoàn 559… tại nơi đây máy bay Mỹ đánh phá ác liệt, để đảm bảo bí mật, đồng bào Cơ Tu huyện Tây Giang cùng bộ đội Trường Sơn đã bí mật đào một hệ thống địa đạo có tên gọi là địa đạo A Xòo để làm nơi trú ẩn. Ông A Lăng Đàn cho biết, trong hai năm 1968 – 1969, cả quân và dân vùng Khu 7, Tây Giang tham gia cùng bộ đội mở đường Trường Sơn, ban ngày gùi lương thực, tải đạn phục vụ chiến trường, đêm về lại đào địa đạo. Ban đầu chỉ là những căn hầm đào giữa lưng chừng núi để tránh bom. Nhưng do địch đánh phá ác liệt, nên các hầm trú ẩn này chẳng bao lâu sau đó được bà con đào sâu vào lòng núi hàng nghìn mét. Được sự giúp sức của bộ đội Trường Sơn, những hầm trú ẩn này trở thành địa đạo vững chắc, chỗ được làm nơi chỉ huy, phòng họp, có cả trạm xá, cứu thương, khu điều trị, chỗ làm kho dự trữ và nơi trú ẩn cùng lúc hàng trăm người khi địch đánh phá. Cũng trong những địa đạo này, các đoàn quân trên đường vào Nam đã trú chân và tổ chức đánh trả lại những đợt càn quét của địch. Câu chuyện bi thương mà ông A Lăng Đàn kể: “Cách nơi cửa địa đạo tại núi Bha Nơơm sâu hun hút mà chính ông và nhiều bà con Cơ Tu chứng kiến là một nỗi đau khó có thể phai. Đó là vào đầu năm 1969, một đại đội công binh hơn 40 người đã mất tích sau loạt bom tọa độ do B52 trút xuống. Bom vừa dứt, đồng bào đi tìm thì chỉ còn nhặt được vài cánh tay và ít dúm tóc…”

Bước sang năm 1973, trước những thất bại nặng nề, Mỹ buộc phải ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27.01.1973). Cuối tháng 02.1973 chính quyền Mỹ chấp nhận ngừng các hoạt động đánh phá bằng không quân ở Lào. Trên tuyến đường Trường Sơn, cả ở phía Đông và phía Tây không còn hoạt động đánh phá của địch. Để thực hiện nhiệm vụ xây dựng cầu đường trước tình hình mới, Trung đoàn 98 được giao nhiệm vụ cùng các Trung đoàn của Sư Đoàn công binh 473 và Tiểu đoàn 2 tập trung làm đoạn đường 14 từ Trao đến bến Giằng. Giữa tháng 8.1973, Trung đoàn được điều động đi làm nhiệm vụ chống lầy, bảo đảm giao thông và hộ tống xe từ Bù Lạch đến Trao và Bến Giằng; đây là nhiệm vụ đột xuất của Bộ Tư lệnh Trường Sơn vận chuyển hàng cho Khu V, đưa vào bến Giằng theo đường 14. Giữa những ngày cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 98 đang rầm rộ thi công tuyến đường Bù Lạch – Trao, thì tin vui đến với Trung đoàn, ngày 20.8 Trung đoàn được tặng thưởng Huân chương quân công hạng nhì và tiếp đó là ngày 03.9, được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Phát huy truyền thống, Trung đoàn tập trung nâng cấp đường 14 đoạn Bù Lạch – Trao; đến đầu tháng 4.1974 đã hoàn thành nhiệm vụ cải tạo 60 km đường gồm mở nền 80.3535 mét khối, rải móng 48 km, bắc 250m cầu. Trong quá trình nâng cấp đường 14, Tiểu đoàn 24 là lá cờ đầu, ngày đêm bám đường, bám trọng điểm. Mỗi khi máy bay địch ngừng đánh phá, trinh sát phát hiện đường hư hỏng thì dù còn bom chưa nổ, cán bộ chiến sĩ vẫn tiếp cận mặt đường, tìm biện pháp khắc phục, bảo đảm giao thông trên nhiều đoạn đường thuộc các khu vực cửa khẩu bị địch đánh phá ác liệt như đường 12, đường 15, đường 20. Có tháng khu vực thi công bị địch đánh cả 30 ngày liền, có ngày đánh hơn 60 lần, nhưng cán bộ, chiến sĩ vẫn kiên cường bám trụ, bảo đảm giao thông thông suốt. Với thành tích san lấp gần 30 vạn mét khối đất đá, phá gỡ hơn 1 nghìn quả bom phá, bom từ trường và 1 vạn quả mìn vướng nổ, mở 62 km đường mới, khôi phục hơn 100 km đường cũ, cứu được 57 ô tô và hơn 100 tấn hàng trong khi địch đang đánh phá. Ngày 31.3.1973, Tiểu đoàn 24 được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Hoàn thành nhiệm vụ cải tạo đường Bù Lạch – Trao, Trung đoàn 98 chuyển sang mở tuyến đường Trường Sơn mới. Việc xây dựng tuyến đường vận chuyển chiến lược mới đặt ra những yêu cầu về kỹ thuật và tổ chức thi công cao hơn so với những tuyến đường trước đây. Vì vậy, Cục Công binh và Bộ Tư lệnh Trường Sơn khẩn trương mở các lớp huấn luyện cho cán bộ công binh và đào tạo đội ngũ lái, thợ. Trước khi khởi công, lực lượng khảo sát, thiết kế của Cục Công binh tập trung vào đoạn thi công của Sư đoàn 473 (đường 14 từ km 68 đến Bù Lạch). Trung đoàn 98 khảo sát đoạn từ chân đèo Bù Lạch đi theo sườn núi phía Đông, qua Xưởng Giấy lên đèo Biên Giới, sau đó đi dọc theo suối Me Lợi, ngược sông A Vương lên tới đèo A Lia và đi dọc theo suối Ba Bua, ven sông Bung đến Oóc Cơ Sun, cắt sông Bung để đến bến Giằng. Ngày 10.4.1974, Đại đội 7, Trung đoàn 98 khởi công xây dựng đoạn đường A Sầu – Xưởng Giấy (km 140 đến km 126). Với khẩu hiệu thi đua “Chọc thủng yết hầu Bù Lạch, quét sạch đỉnh Ha Hia”, “Vượt qua Ba Khe, đè đầu A Dớt”, Trung đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ trước thời gian quy định.

Từ 1974 đến mùa xuân 1975, đèo Bù Lạch là vùng trọng điểm đánh phá ác liệt của Mỹ nhằm ngăn chặn sự chi viện của ta cho các hướng chiến trường. Đây là nơi ghi dấu các sự kiện, những thành tích, chiến công vẻ vang, sự hy sinh gian khổ của các lực lượng tham gia chiến đấu. Đại đội 634 bộ binh ngày đêm bám sát địch truy lùng đánh hơn 20 trận, tiêu diệt 1 toán biệt kích Mỹ, tiêu hao nhiều toán khác, bắn rơi 3 trực thăng vũ trang. Đại đội 4 súng máy 12,7 ly – đơn vị anh hùng cơ động phục kích đánh địch ở động Con Tiên bắn rơi 1 chiếc F105 và 1 chiếc F4. Sau đó cơ động sang dốc Chè (La Đụt) Đại đội liên tiếp bắn rơi 1 trực thăng vũ trang, 1 máy bay trinh sát L19. Cuối tháng 3, Đại đội chuyển vào vùng A So bảo vệ ngầm km 71 – 73, Chính trị viên Đại đội Phan Văn Nhật trực tiếp chỉ huy bắn rơi 1 chiếc B57. Bên cạnh đó, Trung đoàn 98 công binh và quân dân Quảng Nam cùng lực lượng thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến trên tuyến đường Hồ Chí Minh đã kiên cường bám trụ, xây dựng và bảo vệ tuyến đường.

Tuy chiến tranh đã đi qua hơn 40 năm, nhưng đường Trường Sơn và hệ thống địa đạo A Xòo cùng với nhiều chứng tích đã và đang được các cấp chính quyền tỉnh Quảng Nam quan tâm đầu tư phục dựng. Ở đèo Bù Lạch, vào năm 2014, cán bộ viên chức huyện Tây Giang đã đóng góp kinh phí xây dựng một ngôi đền thờ tại đồi Tà Rèn (đồi Bốt Đỏ) thuộc thôn A Xò – xã A Nông để tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ đã ngã xuống. Ở đường Trường Sơn – Hồ Chí Minh đoạn qua Quảng Nam, ngoài di tích quốc gia đặc biệt Khâm Đức và bến Giằng đã được xếp hạng vào năm 2013, ngày 09.12.2013 của Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2383/QĐ-TTg bổ sung di tích đèo Bù Lạch, huyện Tây Giang vào di tích quốc gia đặc biệt. Nhận định về bảo tồn và phát huy giá trị di tích này, ông  Bh’ling Mia – Chủ tịch UBND huyện Tây Giang khẳng định: “Hệ thống địa đạo và đoạn đường Trường Sơn nơi vùng biên giới này sẽ được phục dựng nguyên trạng để minh chứng cho lớp cháu con rằng, cha ông một thời đã sống, chiến đấu và tồn tại. Nơi đây sẽ trở thành một chứng tích lịch sử để giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống hào hùng của đồng bào Cơ Tu Tây Giang đối với bộ đội Trường Sơn của một thời hoa lửa…”.

                                                                                                  N.P