Truyền hình và con đường hội nhập

Bangkok tháng 5, tiết trời bước vào mùa hè nóng như thiêu đốt, nhưng trong diễn đàn của Hội nghị truyền hình công thế giới 2019, không khí còn nóng hơn, bởi những chủ đề được đưa ra tranh luận, vì một mục đích chung: sản xuất chương trình truyền hình như thế nào để đáp

Trao đổi nghiệp vụ tại Hội nghị Truyền hình công thế giới 2019

ứng được đòi hỏi ngày càng cao của công chúng, trong khi truyền hình truyền thống đang bị lép vế trước mạng xã hội.

Từ năm 1978, Hội nghị truyền hình công thế giới (INPUT) là diễn đàn thường niên được tổ chức bởi Hiệp hội các Đài truyền hình công thế giới, với mục đích trao đổi, thảo luận về các thử thách và giới hạn của truyền hình công mà Việt Nam tham gia đến năm nay là năm thứ 3. Trong bối cảnh smartphone ngày càng phổ biến, mạng xã hội và các nền tảng số ngày càng chiếm ưu thế, số lượng người xem truyền hình trên thế giới đang giảm dần như một xu thế không thể đảo ngược. Tình thế đó buộc truyền hình truyền thống phải liên tục thay đổi cách làm chương trình để đáp ứng lượng khán giả ngày càng trẻ hơn và thị hiếu của người xem truyền hình cũng đang dần thay đổi.

Mỗi đài truyền hình tham gia INPUT sẽ mang đến một hoặc vài phim để chiếu và phân tích, thảo luận. Nội dung các phim phản chiếu rõ nét xã hội mà người làm phim đang sống: phim châu Âu thì là những vấn đề xã hội của phương Tây: đồng tính, chăm sóc sức khỏe, các vấn đề của người già, khủng hoảng tâm lý, những lựa chọn trước ngưỡng cửa cuộc sống của giới trẻ, tình dục, mạng xã hội, ý nghĩa của cuộc đời… Phim của các nước đang phát triển thì đi vào bất bình đẳng xã hội, người nghèo, nông nghiệp nông thôn, sự thay đổi từ truyền thống sang hiện đại, từ văn hóa phương Đông sang văn hóa phương Tây…Tuy nhiên các chủ đề đều là những mối quan tâm sát sườn của khán giả. Các nhà làm phim tìm kiếm nhân vật từ nhiều nguồn, trong đó một nguồn rộng lớn chính là mạng xã hội, các diễn đàn, các nhóm… Các phim được chiếu theo từng chùm dưới các chủ điểm để thảo luận sâu vào chuyên môn: Khai thác đề tài từ mạng xã hội; Quay những khoảnh khắc đầy cảm xúc mà không phá vỡ diễn biến tâm lý của nhân vật; Làm phim về những người hùng như thế nào; Sức mạnh của sự im lặng trong phim; Kể lại những điều đã qua rồi; Tôn trọng sự riêng tư của nhân vật…

Ngay trong ngày đầu tiên khai mạc, hai bộ phim được chiếu đều cùng về một chủ đề là cuộc giải cứu nhóm thiếu niên bị mắc kẹt trong hang Tham Luang, Thái Lan diễn ra hồi năm ngoái. Phim của Đài truyền hình Úc không ngoài tone quen thuộc của Truyền hình Úc lâu nay, nhưng xem đến phim của PBS – Thái Lan thì mới thấy vấn đề của những nước mà công nghệ video mới phát triển trong những năm gần đây, trong đó có Việt Nam, đó là lạm dụng flycam, timelapse, nhạc, kỹ xảo, hình đẹp như postcard… đến mức gây bội thực và ngán ngẫm cho khán giả. Sự màu mè này không cứu vãn nổi cái nghèo nàn của nội dung, không khỏa lấp nổi cái hời hợt của người làm phim, không kéo khán giả ra được khỏi cơn buồn ngủ. Nghĩ cho cùng các nước đang phát triển đều đi sau về công nghệ, để sản xuất chương trình truyền hình ăn khách, dùng công nghệ thì không thể qua nổi các ông lớn như Nat Geo hay Discovery, vì vậy lạm dụng công nghệ là một lựa chọn thiếu khôn ngoan và không nên cổ xúy. Giới làm phim tài liệu ở Việt Nam vẫn hay đùa rằng: “Hình ảnh đẹp nhưng mà có nội dung”, hình ảnh đẹp kiểu postcard bằng sự hỗ trợ của công nghệ dù có hiện đại đến đâu cũng không thể cứu nổi một bộ phim, nếu câu chuyện không hay. Khán giả thèm nhìn thấy một khoảnh khắc thật, nụ cười thật, nước mắt thật, những câu nói đùa thật, những căng thẳng thật, thậm chí những tiếng chửi thề thật thì đều không có, “thật” ở đây có nghĩa là dành cho cái thật, cho hiện thực một vị trí xứng đáng trong phim, với sự ý thức cao về tầm quan trọng của cái thật, cái hiện thực của người làm phim.

Một seri phim của Hà Lan dành cho giới trẻ, ở INPUT chỉ chiếu một tập kể về Instagram và ngành công nghiệp trong bóng tối đằng sau nó, với lừa đảo trên mạng, mua bán follower, sống ảo tạo ra giá trị ảo… Ê kíp làm phim đều là những người trẻ dưới 30 tuổi, có cách làm rất thú vị: Khuôn hình đứng như là khuôn hình của điện thoại, người làm phim đóng vai nhân vật chính với nhu cầu mua follower để nổi tiếng, có khiếu hài hước và lời thoại thông minh chặt chẽ. Người được phỏng vấn – một thiếu niên 15 tuổi chuyên bán follower – không muốn bị lộ danh tính nên được đeo mặt nạ, mặc áo trùm đầu và giọng nói được làm méo tiếng đi, chạy phụ đề. Đây là chương trình phát trên nền tảng số rất thành công của truyền hình Hà Lan, và tác giả, trong phần thảo luận sau khi chiếu, nói rằng họ làm chương trình dựa trên những nghiên cứu về thuộc tính lướt mạng bằng smartphone của giới trẻ: Một clip nếu sau 8 giây không có điều gì mới mẻ thú vị xảy ra thì sẽ bị bỏ qua; phim để khuôn hình đứng vì “thân thiện” với thói quen xem phim bằng điện thoại; giới trẻ thích sự hài hước, cá tính chứ không thích sự nghiêm trang… Tất cả những điều này cho thấy với sự phát triển của công nghệ, nội dung và cách thể hiện của các chương trình truyền hình cho giới trẻ trong tương lai đều sẽ phải xới lật những tiêu chí cũ, những cách nhìn, cách đánh giá cũ.

Một seri phim có cái tên rất sốc: “The doggy style”- kể về một cô gái bình thường rời gia đình ở nông thôn lên thành phố ôm mộng trở thành diễn viên, không thành công nên đành quay về lại nông thôn, khám phá lại bản thân mình trong mối quan hệ với gia đình, bạn bè, và nơi mình đã sinh ra mà cô từng ghê tởm và chối bỏ. Cái tên phim mang nghĩa bóng là “khi cuộc sống thúc vào bạn từ phía sau”, bắt bạn phải tiến lên để trở thành một ai đó trong đời. Seri này ra đời trong bối cảnh đã nhiều năm Truyền hình Đan Mạch bỏ qua không quan tâm đến đề tài nông thôn, với kinh phí sản xuất 790 ngàn euro – tầm trung bình nhưng hút khách nhất năm 2018 cho thấy sức mạnh của những đề tài bình thường nhưng biết khai thác tốt thì vẫn luôn hấp dẫn vì khán giả tìm thấy chính bản thân mình trong nhân vật.

Góc nhìn của mỗi nhà làm phim luôn khác nhau bởi mỗi người có xuất phát điểm khác nhau, ảnh hưởng bởi xã hội, bởi văn hóa, tôn giáo và chính trị của đất nước họ đang sống, tuy vậy tất cả đều tiệm cận đến một điểm chung là tính nhân văn. Một số kênh truyền hình công mang đến những bộ phim tài liệu chiếu rạp do đài truyền hình bỏ tiền sản xuất, đó là hai phim “Người hùng” của Mexico và phim “Tình yêu và những lời rỗng tuếch” của Ba Lan. Đây là hai bộ phim rất ấn tượng bởi cách kể chuyện chạm đến tâm hồn người xem, và vì vậy phim được chiếu rạp, bán vé cũng như tham dự các liên hoan phim quốc tế, sau đó mới chiếu trên truyền hình, cho thấy truyền hình và điện ảnh đã đến rất gần với nhau.

Vậy các nhà sản xuất Việt Nam có thể nghĩ đến việc bán các chương trình truyền hình trong nước được đầu tư khá lớn trong những năm gần đây cho các kênh truyền hình nước ngoài hoặc tham gia các liên hoan truyền hình quốc tế không? –Đây cũng là một cách để truyền hình tiếp cận, hội nhập với thế giới. Chưa nói đến chất lượng chương trình, chỉ mới nói đến đề tài: khi một nhà sản xuất hoặc đạo diễn tìm cách chào dự án của mình ở các chợ dự án phim quốc tế hoặc các quỹ hỗ trợ điện ảnh, với người duyệt là các nhà sản xuất nhiều kinh nghiệm đến từ các kênh truyền hình ăn khách nhất thế giới, cái mà họ đòi hỏi ở một dự án luôn là hai chữ U: 1- Universal: tính toàn cầu; 2- Unique: tính độc đáo. Nghĩa là hãy kể một câu chuyện đầy bản sắc quốc gia nhưng khán giả nước ngoài xem đều có thể đồng cảm được. Câu hỏi đầu tiên được đặt ra là tại sao khán giả ở nước tôi lại phải quan tâm đến câu chuyện này, có gì liên quan giữa câu chuyện này với những xã hội khác. Và để trả lời, chỉ có những gì thuộc về con người thì mới tìm được sự đồng cảm ở tất cả mọi nền văn hóa. Tại

Một cảnh trong seri phim Hà Lan

sao chúng ta khóc, cười, hy vọng, thất vọng, lo lắng, hồi hộp dõi theo số phận của những con người xa lạ, nói ngôn ngữ xa lạ, sống trong những cộng đồng xa lạ, hành xử theo những chuẩn mực văn hóa dị biệt trên màn ảnh, trong tiểu thuyết? Bởi vì là con người, chúng ta ai cũng yêu, cũng ghét những điều giống nhau. Vậy nên: cần là tính độc đáo địa phương, đủ là tính toàn cầu. Người làm phim phải kể những câu chuyện về đất nước mình, chỉ có mình mới kể được nhưng hướng đến những mối quan tâm chung của con người. Muốn vậy, không chỉ là chọn lựa đề tài mà cách kể chuyện cũng phải đi sâu vào thế giới nội tâm của con người, chạm được vào sự vi tế trong tâm hồn nhân vật thì mới chạm được đến tâm hồn khán giả.

Điện ảnh và truyền hình thường phát triển song hành với nhau. Trong những năm gần đây, điện ảnh độc lập Việt đã có nhiều bước hội nhập với các phim tài liệu, phim truyện đoạt các giải thưởng quốc tế, được công chiếu ở các liên hoan phim danh giá, được đánh giá cao từ giới phê bình, nhưng con đường hội nhập của truyền hình thì vẫn còn xa, nếu chúng ta không thay đổi.

P.N