Vận hội thăng hoa của xứ Quảng thời các chúa Nguyễn

Theo Quốc sử quán triều Nguyễn “Nhâm Dần năm thứ 45 (1602), nhân đi chơi núi Hải Vân, thấy một dải núi cao giăng dài mấy trăm dặm nằm ngang đến bờ biển, Chúa khen rằng: chỗ này là đất yết hầu của miền Thuận Quảng. Liền vượt qua núi, xem xét hình thế, dựng trấn dinh ở xã Cần Húc (thuộc huyện Duy Xuyên), xây kho tàng, chứa lương thực, sai Thế tử thứ sáu trấn giữ”. Như vậy, sau hơn 130 năm kể từ khi vua Lê Thánh Tông – năm 1471 thân chinh bình định tới đèo Cả, trên núi Đại Lãnh và cho lấy núi Đá Bia làm ranh giới nước Đại Việt, lập Đạo Thừa tuyên Quảng Nam (Thừa tuyên thứ 13 của quốc gia Đại Việt) và sau hơn 32 năm kể từ khi chúa Nguyễn Hoàng – năm 1570 vào trấn nhậm xứ Thuận Quảng thì đến nay Quảng Nam mới thực sự bước vào thời kỳ vận hội thăng hoa, với vai trò trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả vùng đất rộng lớn ở phía Nam và trong cả tiến trình mở cõi của cha ông chúng ta đến vùng đất cực Nam của tổ quốc hiện nay.

Xứ Quảng Nam là một vùng đất rộng lớn về phía Nam, nơi có huyết mạch giao thông giữa trong vùng với và thế giới vô cùng thuận lợi, bởi ngoài giao thông đường bộ, xứ Quảng có ba nguồn sông chính (Thu Bồn, Ô/Vu Gia, Chiên Đàn) kết nối từ vùng núi phía Tây, cả phía Bắc, phía Nam, rồi hội tụ trước khi qua hai cửa biển lớn là Cửa Đại Chiêm – Hội An, Cửa Hàn – Đà Nẵng thông ra biển, giao lưu với các nước trên thế giới. Đó là huyết mạch giao thông, là nguồn vô tận bồi đắp lên nhiều vùng đất trù phú, cùng với trữ lượng vô kể về sản vật. Đồng thời góp phần quan trọng tạo nên phong cách sắc thái văn hóa của xứ Quảng từ ngàn xưa. Trên vùng đất xứ Quảng được xác lập phổ hệ dân cư vốn có lớp bản địa sinh sống từ thời tiền sử cách ngày nay hơn 6.000 năm, đến thời sơ sử, nhất là trong thời kỳ văn hóa Sa Huỳnh đã có mối giao lưu văn hóa, quan hệ kinh tế rõ nét với các vùng trong nước, trong khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc. Trong thời kỳ vương quốc Champa (với nhiều tên gọi khác: Lâm Ấp, Hoàn Vương, Chiêm Thành…) nơi đây là địa bàn tỉnh Amaravati vốn có trung tâm chính trị (với kinh thành Trà Kiệu – Simhapura); trung tâm tín ngưỡng – tôn giáo (với khu đền tháp Mỹ Sơn); và trung tâm thương mại quốc tế (với Chiêm cảng – Lâm ấp phố/ phố của người Lâm Ấp ở hai bên bờ hạ lưu sông Thu Bồn). Tiếp theo là lớp cư dân Đại Việt từ phía Bắc (chủ yếu ở vùng Thanh Hóa, Nghệ – Tĩnh) vào.

Năm 1602, chúa tiên Nguyễn Hoàng đã có tầm nhìn thấu đáo, tinh tế về một vùng đất này, cả về tài nguyên đất đai, con người và vị thế chiến lược lâu dài. Sử văn thời chúa tiên Nguyễn Hoàng có ghi: “Trấn Quảng Nam đất tốt, dân đông, sản vật giàu có, số thuế thu vào nhiều hơn đất Thuận Hóa mà số quân thì cũng bằng quá nửa nên có ý kinh dinh đất này”. Về sản vật, trong “Loại ngữ” Lê Quý Đôn viết: “các núi ở phủ Thăng Bình đều có sản xuất vàng… ở đảo Chiêm có yến, ở nguồn Thu Bồn có quế, huyện Diên Phước có đường bạch khối, đường băng hoa, đường đen, đường mật… ở nguồn Ô Gia có sáp ong, tại nguồn Chiên Đàn có mật ong… Lại có danh mộc rất nhiều, hải sản cũng lắm, đất đai phì nhiêu, dân cư trù mật…”. Việc chúa Nguyễn Hoàng cho lập Dinh trấn Quảng Nam, về mặt chính trị, dinh trấn được xem là thượng đô thứ hai của chúa Nguyễn, một điểm tập sự cho các chúa tương lai kế nghiệp. Hơn nữa đây là một trung tâm hành chính – chính trị trực tiếp cai quản vùng đất này mang ý nghĩa “một vùng đặc khu kinh tế ”. Về mặt quân sự, dinh trấn đóng ở Cần Húc, rồi Thanh Chiêm nó được thiết lập trên bờ một con sông lớn, nối liền miền núi với đại dương theo chiều Tây – Đông; nằm giữa quan lộ giao thông đường bộ Bắc – Nam. Theo nhiều nhà nghiên cứu nhận xét: Nơi đây không quá thế thủ tựa vào núi non như quan niệm của người Chàm, cũng không chênh vênh ngoài bãi biển để hứng các cuộc tấn công của kẻ thù từ ngoài biển vào; đây còn là một căn cứ thủy, lục quân hùng mạnh để yểm hộ một cách đắc lực cho kinh đô (ở Thuận Hóa) và sẵn sàng tiếp ứng cho Quảng Bình trước những đợt tấn công của chúa Trịnh từ phía Bắc; đồng thời tạo nên một vùng an ninh đề phòng có chỗ lui binh – rút lui từ Thuận Hóa về khi cần thiết… dinh trấn cũng là bàn đạp cho công cuộc Nam tiến.

Như vậy, từ sau năm 1602, chúa tiên Nguyễn Hoàng đã đặt Quảng Nam làm một đơn vị hành chính đặc thù với việc:

  1. Thiết lập dinh trấn Quảng Nam tại xã Cần Húc (sau rời về Thanh Chiêm), xây dựng hệ thống kho tàng, tích trữ lương thực phòng khi hữu sự;
  2. Cải đặt và đổi tên một số đơn vị hành chính, trong đó tách huyện Điện Bàn ra khỏi phủ Triệu Phong, lập thành phủ cho lệ vào dinh Quảng Nám;
  3. 3. Cử người con thứ 6 là Nguyễn Phúc Nguyên (một trong 10 người con được ông tin tưởng nhất và sẽ chọn làm người kế nghiệp để làm trấn thủ Quảng Nam thực thi kế hoạch phát huy vai trò của vùng đất này;
  4. Định lệ lấy nơi đây làm nơi thực tập thí điểm của các Chúa tương lai và về sau đã trở thành quy định tiêu chuẩn để nhận xét, đánh giá bổ sung nhân sự cho phủ chúa.

Từ khi cho lập dinh trấn Quảng Nam, việc giao thương với ngoại quốc của xứ Quảng được tăng cường mạnh mẽ: người Hoa, người Nhật, người Bồ và các nước ở phương Tây, phương Đông đến buôn bán, định cư lập nghiệp rất tấp nập ở dinh Trấn, nhất là ở thương cảng Faifo – Hội An – với vai trò là Đô thị thương cảng mậu dịch quốc tế nổi tiếng trên thế giới. Thời bấy giờ, người nước ngoài khen ngợi, tôn xưng xứ Quảng Nam là Quảng Nam quốc. Ở đây không chỉ diễn ra giao lưu kinh tế, thương mại – mậu dịch quốc tế mà cả về văn hóa – chính trị. Chữ Quốc ngữ được Latinh hóa bắt đầu từ đây, các tôn giáo: phật giáo (dòng đại thừa Lâm Tế); Thiên chúa giáo cũng lấy vùng đất này làm nơi khởi đầu phát triển rộng ra cả xứ Đàng Trong, Việt Nam.

Qua tư liệu lịch sử và thực địa ở xứ Quảng đã minh chứng rất rõ về vai trò của chúa Nguyễn đối với sự phát triển hoàn chỉnh và cực thịnh của Quảng Nam và đặc biệt là đối với Đô thị thương cảng Hội An thời kỳ này. Trước hết, mặt tích cực của chúa Nguyễn là khuyến khích sản xuất trong vùng, tận dụng mọi hình thức ngoại giao từ trực tiếp đến gián tiếp để khuyến khích mậu dịch như mở rộng quan hệ bên ngoài, cho phép các tàu buôn nước ngoài vào. Những trường hợp muốn cư trú lâu dài, chúa đã tạo điều kiện cho họ lập phố cư trú, xây dựng thành thị trấn/ dãy phố riêng, được hưởng những quyền tự trị rộng rãi (như trường hợp phố Nhật, phố Khách), hay cho họ mở thương điếm, văn phòng mại biện, hoặc thuê nhà, gian hàng, mua bán trên khoang thuyền… và hàng năm cho mở hội chợ kéo dài 4 tháng liền ở Faifo – Hội An nên khách thương các nước đến mua bán, trao đổi hàng hóa rất sầm uất. Đặc biệt cho thành lập làng Minh Hương bên cạnh làng Việt, được nhà nước xem như người Việt, thậm chí còn được hưởng một số đặc ân: miễn phục dịch, sưu sai, tuần đò, quét chợ… Chính vì thế mà cộng đồng Hoa thương có điều kiện phát triển, đóng vai trò quan trọng, không thể thiếu cho sự phát triển của xứ Quảng. Chúa Nguyễn đã chủ động viết thư cho Tokugawa Ieyasu (Nhật Bản) để thanh minh chuyện cũ và tỏ ý muốn thông thương, buôn bán giữa hai nước, đồng thời còn gả công nữ cho thương gia Nhật Bản. Đối với thương nhân các nước phương Tây, chúa cũng viết thư, mời chào, gửi quà tặng, tiếp đón chu đáo những người đến lập thương điếm, văn phòng mại biện làm ăn ở Hội An. Thậm chí chúa sẵn sàng gạt bỏ những hiềm thù, rắc rối do họ gây ra, “nhún mình” để kêu gọi thương nhân các nước nhằm tạo thuận lợi cho mình, như trường hợp các thương gia Bồ Đào Nha, Hà Lan và các nhà truyền giáo của họ.

Xuất phát từ vị trí hết sức quan trọng về kinh tế ngoại thương ở Hội An nên ngay từ thời kỳ đầu chúa Nguyễn đã đặt nơi đây như một “đặc khu kinh tế”. Một cơ quan chuyên trách về ngoại thương của chính quyền chúa Nguyễn được lập ra ngay ở dinh Quảng Nam. Cơ quan này gọi là Ty Tàu Vụ có 185 người, bao gồm chức danh: cai tàu, tri tàu, cai bạ, cai phủ, ký lục, tấn thủ súng binh, các đội lính tàu và thông sự. Điểm đặc biệt của cơ quan này là nhân viên (cả cấp điều hành và thừa hành) các chúa sử dụng phần lớn là các thương nhân người Nhật và người Hoa. Họ có nhiệm vụ kiểm soát hàng hóa, cân lường và ấn định giá cả các loại hàng hóa xuất, nhập, thu mua hàng cho nhà nước, làm thông dịch viên… đồng thời  còn giao/ đặt các xã Minh Hương, Hội An, Lao Chiêm (Cù Lao Chàm), làng Câu giữ việc thám báo. Ty Tàu Vụ là cơ quan tự trị về mặt tài chính, lấy từ thuế thu được, hưởng 4 phần, còn 6 phần nộp nhà nước. Đây là cách quản lý khá tiến bộ lúc bấy giờ.

Nhà sử học Lê Quý Đôn lúc bấy giờ ghi lại “phàm hóa vật sản xuất từ Thăng Hoa, Điện Bàn, Quy Nhơn, Bình Khang và dinh Nha Trang, đường thủy, đường bộ, đi thuyền, đi ngựa đều hội tập ở bến Hội An, vì thế khách phương Bắc đều tụ tập ở đây để mua về nước” và “những thuyền từ Sơn Nam về thì chỉ mua được một thứ củ nâu, thuyền từ Thuận Hóa thì cũng mua được một thứ hồ tiêu. Còn từ Quảng Nam (Hội An) về thì các món hàng không có món gì không có… hàng hóa nhiều lắm dù trăm chiếc tàu to chở cùng một lúc vẫn không hết”. Nét nổi bật nhất về phương thức buôn bán ở đô thị thương cảng quốc tế này là hình thức tổ chức chợ phiên kéo dài giữa hai kỳ gió mùa mậu dịch hàng năm (gió Đông Bắc/ Bấc và gió Đông Nam/ Nồm). Từ các tháng đầu năm, khi mùa xuân về, gió mùa Đông Bắc đưa thuyền Nhật Bản, Trung Quốc, Bồ (ở Ma Cao)… đến trao đổi hàng hóa ở Hội An, cùng với thương nhân các nước phương Tây, Nam và Đông Nam châu Á, tấp nập nhất vào tháng 3, 4, 5. Đến cuối mùa mậu dịch khoảng tháng 7, 8 khi gió mùa Đông Nam còn thổi và báo hiệu mùa mưa bão sắp tới, đoàn thuyền buôn bắt đầu rời bến Hội An để về nước. Để thuận tiện cho việc mua bán hàng hóa, người Nhật, người Hoa định cư lập phố (lấy vợ Việt); thương nhân Hà Lan lập thương điếm để đặt cơ sở mua bán lâu dài; thương nhân Bồ và thương nhân một số nước khác lại chọn hình thức thuê nhà trọ (khách sạn), gian hàng hay mua bán trên khoang thuyền. Theo Poivre (một thương nhân Pháp) “ở Hội An người ta có thể tìm thấy những đại lý cho thuê, muốn bao nhiêu có bấy nhiêu. Đại lý lớn nhất giá thông thường là 100 đồng cho cả thời gian gió mùa”. Để có được hàng năm tới vừa tốt, rẻ, đạt yêu cầu, thương nhân các nước thường sử dụng hình thức “mãi biện” để thu mua hàng và bao mua, bao tiêu; “Đặt hàng – ứng trước” qua việc giao mẫu hàng; tổ chức quảng cáo, giới thiệu mặt hàng dưới hình thức quà tặng hay bán rẻ. Ngoài ra còn có hình thức độc quyền thu mua của nhà nước hoặc các hình thức đầu cơ, liên kết giảm giá hàng để cạnh tranh của các thương nhân, nhất là thương nhân Hoa.

Nhìn một cách tổng thể,  Đô thị thương cảng Faifo – Hội An thời chúa Nguyễn là một hệ thống quy mô hoàn chỉnh bao gồm: Cửa biển: “…Một gọi là Pullu Ciam Pello (cửa Đại – Hội An), cửa kia là Turon (cửa Hàn – Đà Nẵng)…, chúng hợp với nhau làm một, nơi đó người ta gặp các tàu đi vào từ cửa này hay cửa khác…ở đây gọi là Faifo…; Tiền cảng: Nơi neo đậu tàu/ thuyền của các nước sau khi vào cửa (cửa Đại hoặc cửa Hàn) như: Touron, Trà Nhiêu, Trung Phường…  làm thủ tục hải quan…; Các bến chợ trên nguồn sông: Đà Nẵng, Trà Nhiêu, Thăng Bình, Thành Hà, Trà Kiệu, Trà My…; Điểm tiền tiêu: là Cù Lao Chàm một “trấn sơn”, đảo tiền tiêu của Cửa biển; Dinh Trấn Quảng Nam/ Trung tâm hành chinh – chính trị: ở Điện Bàn có vai trò quản lý trực tiếp mọi hoạt động, với tính chất xem Hội An là “Đặc khu kinh tế”; Phố chợ Faifo – Hội An – trung tâm Hội chợ quốc tế: nơi diễn ra các hoạt động mua bán, hội chợ hàng năm. Tất cả các nhân tố này đã đưa xứ Quảng phát triển cực thịnh, thực sự thăng hoa được đánh dấu từ mốc lịch sử năm 1602, với tầm nhìn và quyết định sáng suốt của chúa tiên Nguyễn Hoàng.

N.C.T