Vai trò “anh Hiệu” trong lịch sử Bài chòi

Thẻ bài Cái sử dụng trong hô Bài chòi dân gian

Bài chòi vừa là trò chơi dân gian vừa là trò diễn xướng thường được tổ chức vào những ngày đầu xuân và không thể thiếu vắng trong đời sống văn hóa của các tầng lớp nhân dân ở miền Trung với các làn điệu, lời ca bình dị, ngọt ngào, gần gũi với  người dân lao động. Trải qua những thăng trầm cùng lịch sử dân tộc, Bài chòi dân gian đến nay đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đó là thành quả của một quá trình tích lũy, chọn lọc, nghiên cứu và sáng tạo đầy tâm huyết của các thế hệ nghệ nhân qua nhiều thế kỷ, mà trực tiếp là các “anh Hiệu” – người nghệ sĩ ẩn danh có vai trò then chốt trong trò chơi văn nghệ dân gian Bài chòi.

 Anh Hiệu thường là người hát hay, giọng tốt, năng khiếu đặt vè, sáng tác và hát thơ, đặc biệt là tài ứng tác rất linh hoạt những bài vè, thơ lục bát, lục bát biến thể một cách trực tiếp, vui tươi, nhuần nhị, có khả năng diễn xuất nhạy bén, duyên dáng và hài hước. Họ vừa là nghệ sĩ bình dân vừa là tinh hoa văn nghệ của làng, mỗi độ xuân về là làm anh Hiệu, hô Bài chòi phục vụ bà con làng xã.

Ở mỗi giai đoạn phát triển của Bài chòi gắn liền với sự tìm tòi, nghiên cứu và sáng tạo nghệ thuật nghiêm túc, say mê của các anh Hiệu qua nhiều đời. Ban đầu, anh Hiệu có nhiệm vụ chia bài đem đến cho các chòi, rút bài trong ống (bài tỳ, bài cái) ra và hô tên cho các chòi nghe để đánh bài, đem tiền và cờ giao cho các chòi thắng cuộc. Nơi hoạt động của anh Hiệu là khu đất giữa 9 chòi, đạo cụ là cái ống đựng quân bài đóng trên cái cọc tre cắm giữa các chòi. Anh Hiệu không chỉ là người phục dịch: thu, phát, hô bài… mà còn có nhiệm vụ quản trò và điều khiển cuộc chơi để tạo ra không khí sôi nổi và hấp dẫn, lôi cuốn khán giả đến xem thưởng thức. Qua thời gian, các anh Hiệu đã không ngừng tìm tòi, sáng tạo để đổi mới cách hô cho hấp dẫn, cuốn hút hơn là nguyên nhân phát sinh của làn điệu Bài chòi. Lúc đầu, khi rút bài trong ống ra, anh Hiệu chỉ “hô” tên các con bài. Chẳng hạn như: Sau khi cầm thẻ bài trên tay, anh Hiệu hô: “Hô…là con nhứt nọc nè”! hay “Hô…là con nhì nghèo nè!”… Nhưng dần dần về sau, cách hô suông dễ sinh ra nhàm chán và kém hấp dẫn, nên anh Hiệu mới tìm một giọng nào đó để có thể ngân nga sao cho nghe có vẻ dịu dàng, êm tai và kéo dài hơn. Vì thế, những câu hô bắt đầu có cao độ rõ ràng, âm thanh lúc trầm  lúc bổng, tiếng nhặt, tiếng khoan lần lượt ra đời. Từ một giọng hô tên con bài, anh Hiệu đã dần dần chuyển sang giọng hát. Nhưng cách hát với một câu mà lời lẽ ngắn cũn cỡn và nghe hát như nói ấy đã thúc giục các anh Hiệu sớm tìm cách nâng cao cách hô của mình. Đó là bước tiếp theo vay mượn những câu thơ lục bát trong ca dao, tục ngữ hay trong câu hát, câu hò dân gian có từ trùng tên với tên con bài để tạo ra sự hấp hẫn, sôi động, người chơi hồi hộp chờ đợi. Ví dụ như khi rút ra con bài “ngũ trợt” anh Hiệu hát: “Chuột kêu chút chít trong rương/ Anh đi kẻo trợt đụng giường mẹ hay”; rồi anh mới hô: “là con ngũ trợt”.

Từ cách sử dụng những câu thơ có từ trùng tên với tên con bài, anh Hiệu tìm đến cách sử dụng những câu thơ không có từ trùng tên mà chỉ có ý nghĩa liên quan đến tên con bài như: “Một hai bậu nói rằng không/ Dấu chân ai đứng bờ sông hai người”. Chỉ nhìn thấy dấu chân mà biết có hai người là vì đã nhìn thấy dấu của bốn bàn chân tức là có ý nghĩa liên quan đến cái tên con bài “tứ cẳng”.

Cách dùng những câu thơ lục bát mang ý nghĩa về tên con bài là một bước phát triển trong lịch sử nghệ thuật Bài chòi, đánh dấu sự bắt đầu của quá trình sáng tạo của các anh Hiệu, tạo được không khí vui tươi, tập trung sự chú ý của công chúng theo dõi, phải dự đoán, hồi hộp trông chờ rất thú vị và hấp dẫn.

Như vậy, ban đầu, anh Hiệu chỉ làm nhiệm vụ hô, dần dần đổi giọng hô bằng cách ngân nga rồi tiến đến hát, từ đó sản sinh ra làn điệu Bài chòi. Sự tiến triển này là mốc đánh dấu rất quan trọng trong lịch sử Bài chòi là làn điệu Bài chòi ra đời từ hội chơi Bài chòi thông qua quá trình lao động và sáng tạo nghệ thuật trong một thời gian dài của nhiều đời anh Hiệu và đã được chọn lọc theo quy luật tự nhiên. Với những điệu hô trầm bổng, nhịp nhàng, du dương của người lĩnh xướng là anh Hiệu đã đưa người chơi lẫn người xem hòa mình vào không khí vui tươi, phấn khởi, sôi nổi của hội Bài chòi.

Tiếp đến là quá trình hoàn chỉnh làn điệu Bài chòi với sự kiên trì tìm tòi, cải tiến, nâng cao hơn nữa nghệ thuật hô hát của các anh Hiệu. Ngoài tự sáng tác, các anh Hiệu kết hợp với nghệ thuật diễn xướng vốn đã thâm nhập vào Bài chòi từ làn điệu đầu tiên, nay càng biểu hiện rõ ưu thế của mình trong sáng tác với nhiều nội dung phong phú. Trên cơ sở điệu hát có sẵn, các anh Hiệu đã ứng tác những câu bài có khoảng 4 đến 15 câu thơ lục bát. Sau đó là những câu có nội dung cụ thể hoặc tuyên truyền, giáo dục những điều hay lẽ phải, hoặc châm biếm, đả kích những thói hư tật xấu trong xã hội. Nhờ vậy, những con bài đều có những câu hô riêng, và có những con bài có đến hai, ba câu hô với nhiều nội dung khác nhau nhưng phải có từ trùng tên với một con bài nào đó để anh Hiệu hô lên và chấm dứt điệu hát.

Với nhu cầu thưởng thức của nhân dân trong hội Bài chòi ngày càng cao, các anh Hiệu (kể cả những người ham thích Bài chòi) đã cùng nhau sáng tác cho Bài chòi. Sự phát triển nội dung dẫn đến sự phát triển của hình thức. Nhờ những câu bài dài có nội dung cụ thể mà cách hô của các anh Hiệu cũng phát triển tự do, ngẫu hứng, làm phong phú thêm giai điệu dẫn đến sự hoàn chỉnh về làn điệu, những khúc hát dần hoàn thiện hơn, giai điệu phong phú, có mở đầu và kết thúc trọn vẹn. Mặt khác, cũng nhờ có nội dung cụ thể mà trong cách diễn đạt tình cảm, các anh Hiệu đã áp dụng nghệ thuật diễn xướng (hát diễn hay diễn trong cách hát) vào Bài chòi, dẫn đến phát sinh tính kịch trong âm nhạc Bài chòi và Bài chòi đã có mầm mống của nghệ thuật sân khấu.

Hoạt động vui chơi của hội Bài chòi ngày càng sôi nổi và phổ biến, thúc đẩy Bài chòi phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng. Nhiều câu bài được sáng tác với nội dung phong phú, sát thực tế và gần gũi với quần chúng, nhiều anh Hiệu có giọng hay đã lôi cuốn khán giả đi xem Bài chòi ngày càng đông. Bài chòi ngày càng phát triển, càng thu hút người xem thì đội ngũ anh Hiệu cũng sinh ra càng nhiều. Tác giả Hoàng Lê trong “Lịch sử ca kịch và âm nhạc Bài chòi” đã chia làm hai loại Hiệu: Hiệu làng (là những anh Hiệu do làng thuê, làng mời về) và Hiệu xã (là những anh Hiệu hoạt động tự do, không bị ràng buộc bởi một hội Bài chòi nào). Trong khi anh Hiệu làng vẫn làm cái việc rút bài hô tên thì anh Hiệu xã lại biểu diễn Bài chòi bằng các câu bài dài đối đáp, kiến tạo, tranh luận hay các trích đoạn kể chuyện trích từ văn học dân gian hay truyện Tàu. Từ khi xuất hiện Hiệu xã, người đến hội Bài chòi để chơi và xem anh Hiệu xã hát, diễn ngày càng đông hơn; từ đó, hội Bài chòi trở nên sôi động, phong phú hơn. Chính sự xuất hiện đông đảo của các anh Hiệu, nhất là Hiệu xã và những người chơi cũng như xem hội là động lực thúc đẩy Bài chòi đi về khắp mọi nẻo làng quê phục vụ nhân dân. Và đó cũng là nguyên nhân đưa Bài chòi phát triển vượt ra ngoài phạm vi hội chòi. Sự xuất hiện của các anh Hiệu xã đánh dấu cột mốc cho giai đoạn đưa Bài chòi hoạt động trên “Sân khấu trải chiếu”.

Lực lượng các anh Hiệu ngày càng đông, tài nghệ ngày càng điêu luyện, đòi hỏi không gian hoạt động rộng rãi hơn trước, chứ không bó hẹp trong phạm vi của hội Bài chòi. Vì thế, các anh Hiệu rủ nhau từng tốp đôi ba người lập thành “gánh” nhỏ để đi về các vùng thôn quê biểu diễn. Các “gánh” Bài chòi của họ tuy còn đơn sơ, không phục trang, cảnh trí, phông màn nhưng họ đã biểu diễn Bài chòi bằng tình yêu và đam mê nghề nghiệp nhằm phục vụ nhu cầu thưởng thức văn nghệ của bà con, được nhân dân hưởng ứng nhiệt thành, từng lớp người chen nhau, lớp ngồi, lớp đứng chăm chú lắng nghe, theo dõi từng câu hát và diễn xuất của các anh Hiệu.

Thẻ bài con sử dụng trong hô Bài chòi dân gian

Những vấn đề của cuộc sống hàng ngày như cái xấu, cái tốt, việc oán, việc ân, chuyện xưa, chuyện nay… được các nghệ nhân Bài chòi phản ánh rất sinh động. Từ sự phong phú của nội dung đến việc tiếp xúc nhiều loại dân ca ở các địa phương, các nghệ nhân Bài chòi đã chuyển hóa thành nhiều làn điệu và phát triển thành nhiều hình thức biểu diễn. Về nội dung, hô không chỉ có các bài lẻ, độc tấu như trước mà các anh Hiệu đã sáng tạo ra nhiều thể loại hơn: độc tấu, kể chuyện, đối đáp, ca kịch. Nếu ở giai đoạn trước chỉ nảy sinh một làn điệu thì đến giai đoạn “sân khấu trải chiếu”, Bài Chòi đã phát triển thành nhiều làn điệu phong phú và đa dạng: Xuân nữ, Xàng xê, Cổ bản và Hò Quảng….

Như vậy, trong hội Bài chòi, nhờ có quá trình lao động và sáng tạo nghệ thuật không ngừng của các anh Hiệu đã làm nảy sinh ra một điệu hát. Cũng nhờ các anh Hiệu (các nghệ nhân trong các “gánh” hát Bài chòi) đã đưa Bài chòi vượt ra khỏi Hội chơi, phục vụ sâu rộng trong nhân dân. Chính từ đó, Bài chòi mới được phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng với nhiều làn điệu và tài năng nghệ thuật của các anh Hiệu cũng ngày càng điêu luyện hơn.

Từ những năm 30 của thế kỷ XX, với sự phát triển lan rộng của các gánh hát Cải lương, hát Bội ra mắt hát ở các trường hát đã ảnh hưởng, tác động đến Bài chòi dân gian thời bấy giờ. Vừa lo lắng cho bước đường kiếm kế sinh nhai lại vừa tủi hổ cho nghề nghiệp của mình vẫn còn lẹt đẹt dưới “sân khấu trải chiếu” nên các nghệ nhân Bài chòi – đứng đầu là hai anh Hiệu: Phạm Đình Lang và thầy mình là Ba Hượt đã mạnh dạn chủ trương đưa Bài chòi “từ đất lên giàn” (tức là “nâng cao” Bài chòi khỏi mặt đất) là một bước tiến mới của nghệ thuật Bài chòi. Đó thực sự là cái “giàn” lịch sử. Nếu Bài chòi trên “sân khấu trải chiếu” còn là sự manh nha của hình thức sân khấu thì sự kiện “từ đất lên giàn” cũng đã rất rõ nét, nghiêm túc và khoa học, là tiền đề cho sự phát triển của nghệ thuật sân khấu Bài chòi sau này.

                                                                                                       T.H