Tục thờ Thành hoàng ở đình Phương Hòa

Đình Phương Hòa

Từ xưa, văn hóa làng đã trở thành hạt nhân quan trọng góp phần tạo dựng nên bản sắc văn hóa Việt Nam. Nếu đối với những ngôi làng ở Bắc bộ, cây đa – giếng nước – mái đình đã trở thành những dấu ấn mang tính biểu tượng, bến sông – cây cầu khỉ lại là nét đặc trưng không thể trộn lẫn của các ngôi làng Nam bộ thì có lẽ sắc thái diện mạo của các làng cổ truyền ở Trung bộ (trong đó có Quảng Nam) cần lắm những nghiên cứu chuyên sâu để nhận diện.

Hiện nay, cùng với dòng chảy của quá trình đô thị hóa, diện mạo của nhiều ngôi làng cổ truyền đã bị biến đổi một phần hoặc đánh mất hoàn toàn. Những hình ảnh biểu tượng trước đây đã dường như chỉ còn là một phần ký ức thật đẹp của các bậc cao niên. Thế nhưng khá may mắn, nhiều làng cổ trước đây của thành phố Tam Kỳ vẫn còn lưu giữ và bảo tồn khá nguyên vẹn ngôi đình làng – một thiết chế đặc trưng của văn hóa làng cổ truyền người Việt. Đặc biệt hơn, cùng với đình làng Hương Trà, đình Phương Hòa là hai ngôi đình ở Tam Kỳ vẫn duy trì tục thờ Thành hoàng làng với những giá trị tâm linh sâu sắc hướng về cội nguồn và sự cố kết cộng đồng.

Đình Phương Hòa tọa lạc tại làng Phương Hòa, nay thuộc khối phố Phương Hòa Đông, phường Hòa Thuận, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Khởi thủy, đình được dựng tại xứ Bàu Môn trên một khu đất cao, rộng (không rõ năm xây dựng). Tuy nhiên, một thời gian sau đó, do làng thường xuyên gặp phải nhiều việc không may mắn nên dân làng quyết định chuyển đình xuống cách vị trí cũ 500m về phía cuối làng. Tương truyền, phía trước khuôn viên của đình, dân làng đào một ao nước khá sâu để tưới cho mẫu ruộng hương điền bên cạnh và các cây trồng xung quanh. Trong khuôn viên còn có ba cây cốc cổ thụ, nhưng hiện nay những dấu vết xưa cũ đã biến mất, chỉ còn lại tấm bình phong vôi đá.

Đến năm 1832, không rõ vì nguyên nhân nào mà đình lại được di dời lần nữa, đến ấp Hòa Tây cũ (nay từ Nhà thờ Tin Lành Phương Hòa quốc lộ 1A đi về hướng Tây khoảng 400m) thuộc xứ Bàu Môn. Trong đình lúc bấy giờ thờ Quan Công, hai bên có tượng Quan Bình và Châu Xương cầm thanh đao đứng hầu, có giá gỗ đặt các loại vũ khí như gươm, đao, giáo … Đến nay, những hiện vật này đều không còn. Do sự tàn phá của chiến tranh, đến năm 1960, đình được dựng lại tại đồng Tro Xá, bên trường Phương Hòa, thuộc ấp Hòa Đông (cũ) nay là khối phố Phương Hòa Đông và tồn tại cho đến nay.

Về nghệ thuật kiến trúc, đình Phương Hòa in dấu bàn tay tài hoa của những người thợ làng mộc Kim Bồng (Cẩm Kim, Hội An) và Văn Hà (Tam Thành, Phú Ninh) nay đã bị mai một và nhiều nơi khác. Tuy ngôi đình hiện nay không còn giữ được nhiều nét kiến trúc cổ song hầu hết khung sườn gỗ, tránh, kèo nguyên thủy vẫn đang được bảo tồn. Đình mang kiến trúc hình chữ Nhất, mặt chính quay về hướng Đông. Phần nền chịu lực được bao quanh bằng đá ong màu nâu sẫm, mái lợp ngói âm dương, đình vẫn giữ được khung sườn bằng gỗ, toàn bộ khung nhà chịu lực trên 30 cột (6 dọc × 5 ngang) đều được làm bằng gỗ mít, đường kính bốn cột lớn nhất gian chính giữa là 12,54 m. Các cột đều được kê trên đá tảng hình vuông, chúng liên kết với nhau theo kiểu thức kẻ chuyền với ba đoạn kèo ngắn. Các đầu, đuôi kèo đều được chạm khắc hình hoa lá và thú vật. Phần kèo nóc liên kết mái tiền và mái hậu theo kiểu thức giao nguyên, vì kèo này được xem là biến thể vì kèo Huế, phần đuôi trính được chạm khắc đầu rồng cách điệu, đặc biệt ở phần trên trụ trốn có lắp thêm một cây đòn đông hạ chính giữa mà phần bụng dưới có khắc chữ Hán ghi rõ thời gian xây dựng đình “Minh Mạng Nhị Thập Niên, Tứ Nguyệt Kiến Nhật Tạo Lập” nghĩa là được xây dựng vào ngày tốt, tháng tư, năm Minh Mạng thứ XVII (1832).

Theo lời kể trước đây của cụ Cao Toàn (sinh năm 1923 – Phó Ban trị sự đình) các đầu cột (hàng ba tiền) có khắc tên 5 tộc họ đã có công lớn trong việc xây dựng đình là Trần, Võ, Nguyễn, Cao, Bùi.

Hệ thống cửa bảng khoa ở lối vào ba gian cũng được làm bằng gỗ mít, ba gian bệ thờ với hai bên tả ban hữu ban thờ tiền hiền tộc Võ và hậu hiền tộc Trần, ông tổ nghề bún của làng trước đây được thờ trong một ngôi miếu riêng nay cũng được đem về thờ trong đình. Căn chính giữa thờ vị tướng Võ Đình Thông cũng chính là Thành hoàng của làng, phía bên trên ở gian chính giữa là bức hoành phi được sơn son thếp vàng với ba chữ Hán “Thượng đẳng thần”. Hai bên hiên có cây trụ biển cao to, vẽ hình long quy phụng quyện vào nhau tượng trưng cho sự vững chắc của đình, mái được lợp bằng ngói âm dương, trên nóc là hình tượng “Lưỡng long chầu nhật”.

Cùng với những giá trị đặc sắc về mặt kiến trúc, nghệ thuật, đình Phương Hòa còn là nơi lưu giữ lại nhiều giá trị văn hóa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về mặt tâm linh, trong đó có tục thờ Thành hoàng. Hàng năm cứ tới ngày 16 tháng 6 âm lịch, dân làng Phương Hòa lại linh đình tổ chức lễ cúng tế Thành hoàng của đình nhằm tỏ lòng tri ân đối với vị Thành hoàng cùng những người có công khai canh lập làng với mong ước cầu cho dân được an cư lạc nghiệp, giáo dục con cháu đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”. Đây là một trong những tín ngưỡng mang giá trị văn hóa tâm linh sâu sắc cần được giữ gìn và bảo lưu cho đến mai sau.

Theo ông Võ Thuân (sinh năm 1952), một người trông coi đình, thành viên Ban trị sự đình thì vị Thành hoàng được thờ ở đình Phương Hòa là tướng Võ Đình Thông, người có công khai cơ Tân lập An Hòa xã (nay là làng Phương Hòa) vào đời vua Gia Long thứ nhất. Năm Minh Mạng thứ 12 (1832) đã sắc phong Thành hoàng Võ Đình Thông là “Thượng đẳng thần”. Như vậy, Thành hoàng của làng Phương Hòa là nhân thần và cũng chính là người khai canh lập làng. Các bản sắc phong, phổ hệ cũng như bài vị đều viết bằng chữ Hán nhưng hiện nay đã không còn nữa mà theo ông Võ Thuân kể lại thì do một vị chủ tế của làng lúc trước là Bùi Nghị đốt đi vì ông thay đổi tư tưởng theo lối duy tân. Chính vì vậy mà nay không còn ai biết rõ nội dung của bản sắc phong đó như thế nào. Hiện nay, ở đình Phương Hòa chỉ còn lại bức hoành phi được khắc lại bằng chữ Hán “Thượng đẳng thần” chung quanh chạy hồ văn được sơn son phết vàng. Thành hoàng đình Phương Hòa được biểu thị bằng chữ “Thần” và thờ ở gian chính giữa, hai bên thờ tiền hậu hiền.

Ông Võ Đình Thông sinh hạ được bốn người con đặt tên theo bốn mùa trong năm là Xuân, Hạ, Thu, Đông. Người con trai trưởng tên là Xuân ở lại làng, còn ba người con khác đi khai cơ lập nghiệp ở huyện Duy Xuyên, Tiên Phước ngày nay. Mộ tiền hiền được an táng tại xứ Đồng Rạ (xóm ông Thược) nay thuộc thôn Đàn Hạ (xóm Rổi) thuộc xã Tam Đàn, huyện Phú Ninh. Năm 1998, phái Duy Xuyên, Tiên Phước và con cháu tộc Võ đóng góp xây dựng lại mộ tiền hiền trở nên khang trang hơn và bảo quản thờ tự. Sau tộc Võ thì tộc Trần được coi là hậu hiền, tổ ông Trần Đăng Ứng “kiến canh điền bộ”, tổ ông Trần Đăng Cậy “lập nghiệp cơ đồ”. Ngoài ra, về sau còn có một số tộc họ khác đến đây lập nghiệp như: Lại, Lê, Huỳnh, Đàm, Dương, Nguyễn, Huỳnh, Trương, Mai,…

Theo lời ông Võ Thuân thì lễ cúng Thành hoàng đình Phương Hòa được tổ chức định kỳ hàng năm vào ngày 16 tháng 6 âm lịch. Trước kia, lễ cúng được tổ chức trùng với ngày giỗ tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3 âm lịch. Về sau không hiểu vì lý do gì mà đình không tổ chức lễ cúng Thành hoàng nữa, mãi cho đến năm 2006 khi UBND tỉnh Quảng Nam cho trùng tu lại đình Phương Hòa (từ ngày 9 tháng 8 đến ngày 10 tháng 11 năm 2006) thì lễ cúng Thành hoàng mới được phục dựng và được tổ chức lại từ đó cho đến nay.

Lễ cúng Thành hoàng hàng năm thì giao cho Ban trị sự đình lo liệu. Cứ 5 năm một lần đình tổ chức lễ cúng lớn một lần giao cho UBND phường Hòa Thuận đứng ra tổ chức (chủ yếu là về mặt kinh phí tổ chức còn phần lớn mọi việc tế lễ đều do Ban trị sự đình thực hiện). Cũng giống như ở đình Hương Trà (phường Hòa Hương), trước khi tổ chức lễ cúng Thành hoàng khoảng 1 tháng (đối với lễ cúng lớn 5 năm một lần thì phải họp trước đó ít nhất là 2 tháng) thì các vị trong Ban trị sự của đình họp lại bàn bạc những công việc cần thiết chuẩn bị chu đáo cho buổi lễ tế Thành hoàng. Tất nhiên là lễ cúng Thành hoàng về cơ bản là năm nào cũng như năm nào nhưng cũng có thay đổi đôi chút về số lượng người phục tế (do một số vị cao niên già yếu không thể tham gia tế lễ), lễ vật, trang trí,… tùy theo tình hình và điều kiện của người dân trong làng mỗi năm.

Nghi lễ tế Thành hoàng của đình là cả một chuỗi những quy định rất chặt chẽ của làng, từ khâu chọn người chủ bái, bồi bái, tư lễ, những người chấp sự cho đến các động tác, cử chỉ, y phục,… của những người tham gia vào cuộc tế và tuần tự các động tác của những người này trong cuộc tế. Làng cũng quy định trong cuộc tế, bắt đầu từ tiết mục “Khởi chinh cổ” cho đến “Lễ tất” có bao nhiêu động tác, tư lễ xướng câu gì, chủ bái xướng câu gì, mỗi chức danh trong cuộc tế đứng ở vị trí nào và làm những việc gì,…

Theo tư liệu điền dã thì mỗi một chủ tộc phái trong làng cử ra một người để tham gia vào Ban phục tế. Các tộc phái gồm: Võ, Trần, Cao, Bùi, Lại, Lê, Huỳnh, Đàm, Dương, Nguyễn. Tổng số người trong Ban phục tế là 12 người, trong đó có: 01 chủ bái (đứng ở giữa), 02 bồi bái (đứng ở hai bên tả ban và hữu ban), 01 tư lễ (người đọc văn xướng), 03 tửu vị (người rót rượu, đốt hương, đèn), 03 ông quỳ lạy, 01 đại tiểu cổ (người đánh trống lớn và trống nhỏ), 01 chinh cổ (người đánh chiêng). Lễ phục được các vị trong Ban phục tế quy định là áo dài màu xanh da trời, đầu đội khăn đóng.

Lễ vật cúng Thành hoàng bao gồm: gà luộc nguyên con, đầu heo với đầy đủ thủ vĩ, hoa quả, trầu cau, rượu, bún (được làm tại làng Phương Hòa), xôi, hương đèn, giấy áo, giấy tiền, vàng mã,… Ngoài sân cúng hai mâm, trong đình cúng ba mâm (ở trên thì cúng chay: cúng hoa quả, bánh,… ở dưới cúng mặn: 1 con gà, 1 đầu heo, bún,…). Người dân thường làm lễ cúng Thành hoàng vào buổi sáng (khoảng 9 giờ sáng), thời gian làm lễ kéo dài trong vòng một tiếng đồng hồ.

Trong lễ cúng Thành hoàng ở đình Phương Hòa có một số điều kiêng kỵ như sau: Trong khi làm lễ bái phải nghiêm trang, phải trật tự không lớn tiếng, người nào việc ấy phải làm cho đúng phận sự; người tham gia phục tế trước khi làm lễ phải giữ cho thân thể sạch sẽ, mặc lễ phục gọn gàng, chỉnh tề.

Lễ cúng Thành hoàng có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống tâm linh của người dân ở làng Phương Hòa, đó không chỉ đơn thuần là sự tưởng nhớ đến công đức vị Thành hoàng Võ Đình Thông, các vị tiền hiền, hậu hiền mà còn mang ý nghĩa giáo dục truyền thống hướng về cội nguồn cho con cháu làng Phương Hòa đặc biệt là lớp trẻ. Thông qua đó nhằm cầu mong cho làng được hưng thịnh, dân làng làm ăn phát đạt, mùa màng tốt tươi, con cái học hành thành tài, công danh sự nghiệp rạng rỡ, ngành nghề làm bún Phương Hòa luôn phát triển, người dân hòa thuận, đoàn kết, mọi việc đều thành như ý.

Người dân làng Phương Hòa xem việc cúng tế Thành hoàng như là một trách nhiệm mà mỗi ai cũng phải có. Vì thế hàng năm, dân làng và con cháu các chi tộc phái trong làng dù ở bất cứ đâu cũng hưởng ứng và đóng góp công sức, tiền của để bảo tồn, lưu giữ những giá trị văn hóa tâm linh vô giá đó.

                                                                       N.T.V.L

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Phú Bình, Ai qua chợ Vạn Tam Kỳ…, báo Quảng Nam số ra ngày 12.01.2013.
  2. Phú Bình, Làng cũ Tam Kỳ, báo Quảng Nam số ra ngày 18.01.2013.
  3. Toan Ánh, Nếp cũ làng xóm Việt Nam, Nxb Trẻ, năm 2004.
  4. Vũ Ngọc Khánh, Thành hoàng làng Việt Nam, Nxb Thanh niên, 2002.
  5. 5. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Nam (2003), Hồ Sơ di tích Đình Làng Phương Hòa.
  6. Sở VHTT Quảng Nam, Phong tục – tập quán – lễ hội Quảng Nam, tháng 9 năm 2004.
  7. Trung tâm Quản lý Di tích Danh thắng Quảng Nam, Hồ sơ các di tích lịch sử – văn hóa trên địa bàn thành phố Tam Kỳ từ năm 2005-2009.
  8. Tư liệu điền dã.