Trang sức bằng ngọc của người Việt xưa

Cách nay hàng ngàn năm, nhân loại đã biết sử dụng các loại đá ngọc có trong tự nhiên để làm đồ trang sức. Các nhà khảo cổ học Nhật Bản đã phát hiện nhiều vật trang sức làm bằng ngọc trong các ngôi mộ cổ thuộc thời đại Yayoi (400 trước CN – 250 sau CN), còn các nhà khảo cổ học Hàn Quốc lại tìm thấy hàng trăm viên ngọc lục bảo gắn trên chiếc vương miện bằng vàng trong ngôi mộ Cheonmachong thuộc vương triều Shila (668 – 891) ở Kyongju. Người Trung Hoa coi ngọc là thứ đứng đầu trong “tứ đại quý” (ngọc – ngà – châu – bảo), trong khi người Ai Cập quan niệm ngọc là những giọt máu của rồng. Đối với người phương Đông, ngọc không chỉ là những thứ đá quý có giá trị thẩm mỹ, mà còn mang những tính năng siêu phàm như trị bệnh, giúp cho con người “trường sinh bất lão”, mang lại hạnh phúc và may mắn. Vì thế, ngọc thường được chế tác thành đồ trang sức, luôn được con người mang bên mình, không chỉ để làm đẹp mà còn vì những nguyên nhân tâm linh, thần bí.

Ở Việt Nam, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều vật trang sức như vòng tay, hạt chuỗi… làm bằng ngọc trong các di chỉ khảo cổ thuộc hậu kỳ thời đại đá mới (3000 – 1500 trước CN) như văn hóa Hạ Long, văn hóa Hà Giang, văn hóa Mai Pha…

Hộp đựng phấn bằng ngọc lục bảo. Thời Nguyễn (1802 – 1945).

Vòng tay hình hai đầu rồng bằng ngọc trắng. Thế kỷ I – III.

Khuyên tai 3 mấu bằng ngọc xám. Văn hóa Sa Huỳnh

Đặc biệt, trong các di chỉ thuộc văn hóa Phùng Nguyên (2000 – 1500 trước CN) có rất nhiều với đồ trang sức, vũ khí, công cụ sản xuất làm bằng đá ngọc. Vì thế mà nhiều nhà khảo cổ học đã gọi văn hóa Phùng Nguyên là “văn hóa cổ ngọc”. Những chiếc vòng tay, những khuyên tai hình đốt trúc, nhẫn… làm bằng ngọc đã được tìm thấy ở các di chỉ Phùng Nguyên, Xóm Dền, Đồng Đậu…

Trong văn hóa Đông Sơn (700 trước CN – 100 sau CN), đồ ngọc trang sức xuất hiện khá phổ biến trong các di chỉ ở lưu vực sông Mã như Cồn Cấu, Bái Tê, Gò Mả Chùa… Đó là những chiếc khuyên tai hình vành khăn có xẻ rãnh, rộng bản, mép ngoài vát tròn hoặc nhọn, làm bằng các loại ngọc màu xanh đậm, xanh ngà hay vàng ngà. Trong khi đó, chủ nhân của nền văn hóa Sa Huỳnh (1000 trước CN – 200 sau CN) ở miền Trung Việt Nam thì rất chuộng đồ trang sức làm từ các loại đá quý nhiều màu như mã não, thạch anh tím, carnelian, nephrit… Cuộc khai quật di chỉ Lai Nghi (Quảng Nam) trong các năm 2003 – 2004 đã phát hiện hai mộ chum có nhiều đồ tùy táng rất độc đáo, trong đó có hơn 1.500 hạt chuỗi làm bằng đá mã não, carnelian, nephrit… với hơn 15 kiểu dáng khác nhau. Đồ trang sức bằng ngọc tiêu biểu nhất trong văn hóa Sa Huỳnh là những chiếc khuyên tai ba mấu và khuyên tai hai đầu thú. Theo TS. Andreas Reinecker, nhà khảo cổ học người Đức đã có nhiều năm nghiên cứu về văn hóa Sa Huỳnh, thì hình đầu thú hai sừng trên các chiếc khuyên tai hai đầu thú của văn hóa Sa Huỳnh có một mối liên hệ nhất định với sao la, loài động vật được phát hiện lần đầu ở Việt Nam vào năm 1992, vốn sống tập trung ở khu vực đồi núi phía tây của miền Trung Việt Nam. Đây cũng là địa bàn cư trú chính của chủ nhân văn hóa Sa Huỳnh. TS. Andreas Reinecker nhận xét rằng: “Nếu khuyên tai ba mấu dịu dàng, tinh tế và khá duyên dáng thì khuyên tai hai đầu thú lại thể hiện chất dũng mãnh, kiêu hãnh và cư­ờng tráng của nam giới”.

Trong mười thế kỷ đầu Công nguyên, đồ trang sức bằng ngọc ở Việt Nam chủ yếu là đồ tùy táng được phát hiện trong các ngôi mộ cổ. Đó là những ngọc bội làm bằng ngọc xám và ngọc đỏ, tạo dáng như những món cổ đồng thời Ân Thương (1766 – 1722 trước CN) ở Trung Hoa, có khắc hình chòm sao thất tinh, hình rồng và mây;  các ngọc bội hình cá bằng ngọc xám và ngọc trắng; các ngọc bội hình tròn dẹt, có lỗ ở giữa bằng ngọc lục bảo, hai mặt chạm khắc hình thú, hình mây xoắn; các loại vòng tay hình tròn dẹt bằng ngọc trắng xám có hình hai đầu rồng…

Sang thời kỳ độc lập tự chủ từ thế kỷ X đến thế kỷ XVIII, cổ ngọc được sử dụng để chế tác các loại ấn tỉ; hốt ngọc hình nấm linh chi (gậy như ý); đồ văn phòng tứ bảo như nghiên mực, các bút, thủy trì…, hơn là dùng làm đồ trang sức.

Khuyên tai hai đầu thú bằng ngọc lục bảo. Sơ kỳ thời đại đồ sắt. Phát hiện tại di chỉ Gồng Cá Vồ, huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh

Đồ trang sức hình cá bằng ngọc trắng. Thời Nguyễn (1802 – 1945)

Thời Nguyễn (1802 – 1945), việc sử dụng ngọc trong hoàng cung Huế rất phổ biến. Ngọc được dùng để chế tác ấn tỉ, vật trang trí trong các cung điện, đồ văn phòng tứ bảo, hộp đựng trầu cau, đồ uống trà, uống rượu, các loại thẻ bài, đồ giải trí, đồ trang sức… Triều Nguyễn dùng ngọc để chế tác thành các chi tiết hình rồng, phượng, đóa hoa, dải mây… trang trí trên vương miện của vua và hoàng hậu. Ngọc cũng được chạm trổ thành những mảnh trí hình rồng mây gắn trên đai lưng trong các bộ trang phục của vua và hoàng tử. Ngọc còn được chế tác thành những ngọc bội hình chiếc khánh, thường được vua chúa và các vương tôn công tử đeo trên ngực. Ngoài ra, còn có những chiếc lọ bằng ngọc trắng, có nắp làm bằng vàng dùng để đựng dầu thơm, hay những chiếc hộp đựng phấn để trang điểm làm bằng ngọc trắng và ngọc lục bảo. Thậm chí, trong kho tàng cổ ngọc của vương triều Nguyễn còn có một cặp kính có gọng làm bằng vàng và ngọc trắng.

Ngọc bội khắc 4 chữ Hán ‘Thiệu Trị trân bửu’.

Ngọc bội khắc 4 chữ Hán ‘Khải Định trân bửu’.

Nhiều món đồ trang sức bằng ngọc của triều Nguyễn đã thể hiện trình độ chế tác rất tinh tế và điêu luyện, có sự kết hợp khéo giữa kỹ thuật chế tác ngọc với vàng, bạc, đồi mồi…, tạo thành những món trang sức quý giá, độc đáo, có giá trị văn hóa và giá trị nghệ thuật cao, xứng đáng là những bảo vật quốc gia.

Nhìn chung, đồ trang sức bằng ngọc của người Việt xưa không chỉ có giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật, mà còn xứng đáng là hình mẫu cho các bộ sưu tập trang sức hiện đại, nhất là trong bối cảnh xu hướng “hoài cổ” đang là thời thượng trong giới thiết kế đồ trang sức ở Việt Nam hiện nay.

T.Đ.A.S