Thần tích, thần sắc về các vị thần được thờ trong các làng xã ở Hội An

Nằm trong chương trình sưu tầm tư liệu tại các Trung tâm lưu trữ (I, II, III, IV), Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Thông tin Khoa học xã hội Việt Nam phục vụ cho việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu, biên soạn địa chí Hội An” do thạc sĩ Nguyễn Chí Trung làm Chủ nhiệm đề tài. Được sự cho phép của Chủ nhiệm đề tài, chúng tôi xin giới thiệu trích lược một số thần tích, thần sắc liên quan đến Hội An sưu tầm được tại Viện Thông tin Khoa học xã hội Việt Nam thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi giới thiệu trích lược một số thần tích, thần sắc của làng Minh Hương, làng Bồng Đông và làng Trường Lệ.

1.Làng Minh Hương

1.1. Huyền Thiên thượng đế hay Bắc đế

Theo truyền thuyết, dọc từ phía Bắc đến phía Nam của khu vực châu Á, có một con quái vật sống dưới lòng đất, gọi là “con Cù”. Đầu nó ở đất Bắc Á, thân ở Nhật Bản và đuôi tại nước Nam. Khi nó động đậy, sẽ gây ra động đất. Nước Nhật luôn phải hứng chịu những cơn động đất gây ra bởi con quái vật này. Do vậy, cư dân Nhật Bản thờ vị thần này bởi vì ngài có khả năng chế ngự con quái vật. Khi người Trung Hoa đến nước Nam ta, họ mời những nghệ nhân, những nhà địa lý Nhật Bản dựng trong làng này một ngôi chùa thờ ngài với mục đích làm cho nước Nam được yên bình.

Truyền thuyết về vị thần này chủ yếu được truyền miệng. Vào thế kỷ thứ XVIII, một vị chúa (tức chúa Nguyễn Phúc Chu) khi đến thăm chùa đã ban ba chữ “Lai Viễn Kiều – 来遠橋”, các chức sắc trong làng đã khắc lên một tấm bảng gỗ, treo trước chùa để lưu niệm. Sau này, dưới các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức có nhiều sắc phong của vua cho vị thần này.

Ở Hà Nội, người ta cũng thờ vị thần này nhưng họ gọi ngài bằng một tên khác “Thánh đồng đen” thay vì “Bắc Đế”. Vị thần này cũng được tạc tượng.

Dân làng tổ chức lễ vía ngài vào ngày 3 tháng 3 âm lịch hàng năm. Lễ vật gồm cơm trắng, thịt heo, thịt gà. Lễ vật do các chức sắc trong làng chuẩn bị bằng tiền của làng. Sau đó, lễ vật được chia cho những người tham dự lễ vía. Lễ vía được cử hành bởi Lý trưởng và bốn hoặc năm người thuộc hạ. Trước và sau lễ vía, những thuộc hạ của Lý trưởng là người giám sát các việc kiêng cử và việc nên làm. Trong suốt lễ vía, những người hành lễ mặc áo dài màu xanh, tay rộng, đóng khăn.

Vài năm trở lại đây, đã có sự thay đổi trong việc cúng kính. Trước đây, dân làng cúng cơm trắng, heo, gà thì nay thay bằng hoa, quả.

1.2. Chùa Ông Chú

Thành phố Faifo có một khu phố Hoa kiều, nơi có cộng đồng lớn cư dân gốc Hoa cư trú. Vào khoảng cuối triều đại nhà Minh, cư dân gốc Hoa đến đây cư trú lập ra làng Minh Hương, tên làng có nghĩa là nơi hương hỏa của những người từng sống dưới triều nhà Minh (Minh 明 là nhà Minh và Hương香 là hương hỏa). Dưới triều vua Minh Mạng, chữ “Hương香” được thay đổi với ý nghĩa là “làng鄉”. Đến năm 1935, làng đổi tên thành Minh Hương đệ nhị Phường. Rất nhiều ngôi chùa và đình được cư dân xây dựng trong làng. Trong đó nổi tiếng nhất là chùa Ông Chú. Tên gọi Ông Chú truyền khẩu từ đời này qua đời khác, có thể được giải thích với ý nghĩa rằng cư dân thờ ở đây một vị thần gọi tên là “Ông Chú”.

Trước đây, ngôi chùa được xây dựng trên một khuôn viên tại khu vực phía Tây thành phố, vào khoảng giữa hai làng Thanh Hà và Cẩm Phô, nên còn có tên là “Cẩm Hà Cung”, bức hoành phi có ba chữ này vẫn còn được lưu giữ trong đình. Khi Gia Long lên ngôi vua, ông cho dời về ngay giữa thành phố, phía Nam đường Minh Hương ngày nay. Tam quan của chùa được trang trí nhiều màu sắc và rất đẹp. Đây có lẽ là tam quan đẹp nhất tại Hội An từ xưa đến nay. Cổng tam quan được xây vào năm 1848. Một sắc phong do vua ban đề danh hiệu “Huyền Thiên Đại Đế”.

Truyền thuyết kể lại rằng, thời đó, tại vị trí nay là Chùa Cầu, có một con thủy quái, cư dân gọi là “con Cù”. Loài thủy quái này sống dưới đáy nước và mỗi lần nó cử động toàn thành phố sẽ bị ngập lụt. Cư dân tin vị thánh “Huyền Thiên Đại Đế” có thể chế ngự loài thủy quái này nên đã xin phép quan chức sở tại cho xây một ngôi chùa thờ ngài ở đây. Thật vậy, từ đó những trận lụt dữ dội dần biến mất. Vì thế chùa “Ông Chú” chỉ còn thờ “Thái Thượng Lão Quân” và “Tam Thập Lục Tướng”. Thay vào gian thờ “Huyền Thiên Đại Đế”, dân làng cho thờ “Bảo Sanh Đại Đế”. Mỗi khi trong chùa có lễ, quan chức trong làng thường đến Chùa Cầu để rước “Huyền Thiên Đại Đế” về dự lễ.

Theo sự tích, ngài là một vị hoàng tử của nước Lạc tên là Huyền Nguyên. Ngài từ bỏ ngôi vua cha truyền đi theo một đạo sĩ lên núi Võ Đương Sơn, gần với Dương Tử  Giang (Trung Quốc) để học đạo tu tiên. Sau nhiều năm khổ tu, ngài đắc đạo thành tiên. Ngài được ban cho 36 vị tướng để tiêu diệt quỷ dữ gây đau thương cho con người. Vì thế, cảm ân đức của ngài, nhân dân cho xây ngôi miếu thờ ngài tại núi Võ Đương nơi ngài đắc đạo. Người Hoa thời nhà Minh hay di dân người Hoa tại Đông Dương đều mang theo tín ngưỡng thờ vị thần này.

Ngôi chùa có ba ban thờ, ở giữa là gian thờ ngài, hai bên là gian thờ Tam Thập Lục Tướng. Mỗi khi trong vùng gặp họa, các chức sắc sẽ đến cầu ngài để mong tai qua nạn khỏi. Trong làng có người đỗ đạt phải đến đây làm lễ để bày tỏ lòng biết ơn. Ngày vía ngài được tổ chức vào ngày 3 tháng 3 âm lịch, là ngày đản sinh của ngài.

Trong chùa, lễ vật cúng bao gồm thịt heo, thịt bò… Lễ vật sau khi cúng sẽ được chia cho tất cả dân làng. Tiền lễ do làng chi trả. Những năm trở lại đây, lễ vật cúng bằng thịt gia súc được thay bằng trái cây và hoa.

  1. Làng Bồng Đông

2.1. Bổn triều Trung Dinh Nguyễn Quý Công

Tục truyền rằng thần là một vị tướng tài của vua (?), nơi trước đây ông lập đồn đóng quân hiện nay chính là ngôi miếu thờ ông. Ngôi chợ ngày nay gần miếu thờ có tên là chợ Đồn. Thần không có sắc phong. Thần được thờ trong ban thờ có ngai, có khăn phủ và hộp bằng giấy. Ngày nay ngôi miếu thờ ngài được bao phủ bởi những cây lớn. Thần không được thờ tự ở nơi khác.

Lễ vía ngài là ngày 12 tháng giêng âm lịch. Lễ vật cúng gồm cơm trắng, xôi, heo quay… Lễ vật do làng chi trả. Sau lễ cúng, các chức sắc sẽ chia nhau lộc do thần ban. Chỉ có một người duy nhất cử hành lễ vía. Đó là một chức sắc già, người được tôn trọng và có chức bậc cao nhất trong làng. Ba ngày trước lễ vía, người cử hành lễ vía phải thực hiện những điều kiêng kỵ và những điều nên làm.

2.2. Kim Bồng Thành Hoàng Đại Vương tôn thần, gia tặng Bảo An chi thần

Thần tích liên quan đến thần không ai rõ, cũng không ai rõ những công trạng của ông với dân làng. Thần chỉ có một sắc phong do vua Minh Mạng thứ 7 ban vào ngày 17 tháng 9. Sau đó thần được ban sáu sắc phong thăng hạng vào thời các triều vua: Thiệu Trị thứ 3; Tự Đức thứ 3; Đồng Khánh thứ 2; Duy Tân thứ 3; Khải Định thứ 9.

Những làng lân cận như Trà Nhiêu, Cẩm Phô, An Phước cũng thờ thần, tuy nhiên giữa các làng lại không có bất cứ liên hệ gì với nhau về việc thờ thần. Ở các ấp, cư dân cũng thờ thần. Thần được thờ với bức tượng gỗ sơn màu vàng và đỏ. Có một bài vị, ngai thờ, mũ thờ được làm bằng giấy và được thay mỗi dịp Tết đến.

Thần vị được thờ trong một ngôi miếu rợp cây. Trước miếu, không được xây bất cứ công trình gì. Trước đây có tấm bia đá nhưng nay đã bị mất ghi rõ: “Những người đi ngựa, hãy xuống ngựa, ngả mũ”. Trong miếu, thần vị được thờ ở gian chính giữa, gian bên phải thờ thần Thái Giám và gian bên trái thờ Ngũ Hành.

Lễ vía thần được tổ chức xuân – thu nhị kỳ (ngày 12 tháng giêng và ngày mùng 2 tháng 7 âm lịch). Lễ vật cúng gồm cơm trắng, xôi, heo quay… Lễ vật do làng chi trả. Sau lễ, chức sắc chia nhau lộc thần ban. Những năm gần đây, do sắc dụ của quan Thượng thư bộ Lễ nên lễ vật cúng chỉ còn một nén nhang, rượu và trà.

 

  1. Làng Trường Lệ

Tên làng và tên thần: Miếu thờ Ngọc Nữ, nơi thờ vị thiên thần “Ngọc Nữ Linh Cao”, tọa lạc tại làng Trường Lệ, tổng Phú Triêm, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Quan Tham Tri bộ Lễ Hồ Lượng, người trong vùng này đã cầu khẩn thần giúp hóa giải căn bệnh hiểm nghèo của người vợ đang hấp hối. Sau đó, vợ ông được chữa khỏi bệnh. Để cảm tạ ân đức này, thay mặt cho dân đinh trong 6 làng: Đại An, Thanh Hà, Cát Cao, Vân Quật, Cẩm Phô, Trường Lệ; quan Tham Tri tôn làm thần bảo hộ, hoàng đế Bảo Đại đã ban tặng danh hiệu “Linh cao thần”. Tại làng Nhựt Lệ, tỉnh Quảng Bình, theo một sắc phong được vua ngự ban, cư dân cũng thờ phụng vị thần này. Tuy nhiên, sau đó làng này đã ngừng phụng thờ do “con đồng” bị mất. Thần Ngọc Nữ được thờ trong ngôi miếu lợp ngói, có ban thờ, có ngai, trang phục nhiều màu sắc, có đai lưng, mũ trùm đầu và có cả kiếm.

Lễ cúng thần có liên hệ đến các ước vọng của dân làng. Hằng ngày đều có những lễ cúng tại ngôi miếu này. Chẳng hạn, một người đi câu muốn có nhiều cá, một người chèo đò muốn vượt biển thuận lợi đều mang lễ vật đến cầu thần. Lễ vật gồm một bó hương, một cặp đèn, một bó hoa sứ, khoảng 20 xu. Một người già sẽ giúp mọi người đọc câu chữ thần ban cho. Hàng năm vào ngày 24 tháng 8 âm lịch và ngày mồng 8 âm lịch hàng tháng, dân cư 6 làng sẽ làm lễ cúng thần. Lễ vật cúng gồm heo quay, xôi… Chức sắc và những người chủ lễ trong làng sẽ được chia lễ vật sau đó. Trước đây có tám người tham gia lễ cúng thì nay giảm còn 3 người. Người chủ lễ phải ăn mặc sạch sẽ và nhịn ăn. Trang phục và đồ dùng tế tự cũng giống như các lễ tế khác. Những năm gần đây có một số thay đổi liên quan đến phương thức tổ chức lễ tế như cách chia lễ vật; số người tham gia lễ cúng; những điều kiêng cử và những cấm kỵ.

Có thể nói, thần tích thần sắc về các vị thần được thờ trong các làng xã ở Hội An đã phản ánh đời sống văn hóa tín ngưỡng vô cùng phong phú và đa dạng của cộng đồng người Hội An trước đây, qua đó cung cấp nhiều thông tin quý giá để tìm hiểu, nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng trong phạm vi cộng đồng của người Hội An hiện nay.

                                                                                       P.P.T

Chú thích:

– Trong bài viết chúng tôi cố gắng giữ nguyên câu văn của người viết trước đây và có chỉnh sửa một số thông tin không phù hợp.      

– Thần tích, thần sắc 2 làng Thanh Đông và Phước Trạch chúng tôi sẽ giới thiệu trong các bài viết sau.

– Phần dịch tiếng Pháp từ bản gốc do Phan Minh Huy thực hiện.