Phương ngữ “giao du”

Giữa lúc các cuộc tranh luận về cải cách chữ viết vẫn đang sôi nổi, chúng tôi sực nhớ về kiến giải của một chuyên gia cách đây 14 năm khi nhìn nhận quy trình tất yếu của ngôn ngữ là thống nhất dần, riêng tiếng Quảng thì có sự “giao du” với ngôn ngữ hai miền Nam Bắc…

1.Khi hoàn tất đề tài khoa học “Những đặc trưng cơ bản của tiếng Quảng Nam và vị trí của nó trong việc hình thành chữ quốc ngữ”, Ban chủ nhiệm đề tài đã phân tích: Gần nửa thế kỷ qua, các nhà khoa học có tâm huyết trong và ngoài nước có nhiều nỗ lực tìm hiểu về lịch sử chữ quốc ngữ, về Quảng Nam và tiếng Quảng Nam… nhưng việc nghiên cứu còn chưa kỹ, chưa sâu, kết quả còn khá khiêm tốn. Đó là chuyện của năm 2004.

Bức ảnh chọn đăng trên trang bìa cuốn “Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX”

Sau 14 năm, hành trình nghiên cứu này đương nhiên đã tiến xa, đặc biệt là với hội thảo khoa học “Dinh trấn Thanh Chiêm và chữ quốc ngữ” tổ chức hồi năm 2016 tại Quảng Nam. Bởi riêng chủ đề về quá trình hoàn thiện, sử dụng và truyền bá chữ quốc ngữ, có đến 17 tham luận. Trong nhóm vấn đề này, nhóm tác giả Trần Kim Thu – Trần Thị Hạnh – Võ Hường Trang (Sở Khoa học – Công nghệ Quảng Nam) đề cập tiếng Quảng Nam với chủ đề: “Công tác nghiên cứu những đặc trưng cơ bản của tiếng Quảng Nam và vị trí của nó trong sự hình thành chữ quốc ngữ”.

Đáng chú ý, báo cáo vừa nhắc của nhóm tác giả Trần Kim Thu – Trần Thị Hạnh – Võ Hường Trang được ghi chú rất rõ: Dựa trên kết quả nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học thuộc Viện Ngôn ngữ học Việt Nam, tức đề tài khoa học “Những đặc trưng cơ bản của tiếng Quảng Nam và vị trí của nó trong việc hình thành chữ quốc ngữ”. Còn chuyên gia từng chia sẻ về câu chuyện tiếng Quảng “giao du” không ai khác chính là PGS-TSKH Lý Toàn Thắng, viện trưởng (giai đoạn đó).

Khi chúng tôi trao đổi liên quan đến phương ngữ và những đóng góp của tiếng địa phương đối với ngôn ngữ chung trên toàn quốc, trong đó có tiếng Quảng Nam, PGS-TSKH Lý Toàn Thắng khẳng định đây là vấn đề hay, rất đáng bàn. Theo ông, giới ngôn ngữ học đánh giá kể từ năm 1986, có một hiện tượng rất mới trong tiếng Việt là sự du nhập, giao du qua lại với nhau; các tiếng địa phương cũng không còn “đóng kín” như trước. Đơn cử, các từ “nhậu lai rai”, “bồ”… đã thấy dùng chung giữa hai miền Nam – Bắc. Người Hà Nội vẫn thoải mái dùng chữ “gạch bông” khi nói về “gạch hoa”, kể cả các từ vốn dùng nhiều ở miền Nam như “cơm rang”, “cơm chiên”… “Như vậy, các tiếng địa phương đã có sự thống nhất dần. Và tôi nghĩ, tiếng Quảng Nam cũng không ra ngoài quy luật đó, sẽ “giao du” với tiếng miền Nam, với tiếng miền Bắc. Những từ ngữ của tiếng Quảng Nam cũng sẽ vào trong tiếng toàn dân và ngược lại”, ông Thắng nêu quan điểm.

Xin nhắc lại, để nghiên cứu về những đặc trưng cơ bản của tiếng Quảng Nam và vị trí của nó trong việc hình thành chữ quốc ngữ, Viện Ngôn ngữ học Việt Nam đã cử một số đoàn đi về khoảng 30 điểm ở Quảng Nam để “nhìn” ra tiếng Quảng phong phú, đa dạng như thế nào. Bởi theo các nhà nghiên cứu, “dưới” phương ngữ Quảng Nam còn có các thổ ngữ, giọng người miền biển đương nhiên sẽ khác với vùng núi, vùng đồng bằng.

2. Với tư cách một nhà ngôn ngữ và là dân gốc Hà Nội, PGS-TSKH Lý Toàn Thắng bảo rằng khi nghe một thứ tiếng khác, ông thường sẽ xem tiếng đó có khác gì so với tiếng Hà Nội, một “phản xạ” bình thường. Và ông nhận thấy, ở tiếng Hà Nội, những âm s – x, tr – ch, r – d… thường khó phân biệt, nhưng với tiếng Quảng thì những âm đó có sự phân biệt rõ ràng. Vì thế, ông nhìn nhận “tiếng Quảng phong phú lắm!”.

Trở lại với các cuộc tranh luận đang diễn ra về việc nên hay không nên cải cách tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học Việt Nam cũng đã bày tỏ quan điểm. Người đại diện cho Viện Ngôn ngữ học Việt Nam lúc này là GS-TS Nguyễn Văn Hiệp, viện trưởng. Trong số các vấn đề mà Viện Ngôn ngữ học Việt Nam phản biện trước đề xuất cải cách tiếng Việt của PGS-TS Bùi Hiền, có yếu tố mang tính pháp lý. Cụ thể, ông Bùi Hiền đưa ra gợi ý “tạm thống nhất lấy tiếng Hà Nội làm cơ sở ngữ âm cho việc xác định bảng chữ cái tiếng Việt (tiếng Kinh)”. Trong khi đó, hiện nay chưa có văn bản chính thức nào của Nhà nước quy định tiếng Hà Nội là tiếng chuẩn.

Không những vậy, PGS-TS Bùi Hiền cũng được cho là có những nhầm lẫn cơ bản về mặt ngôn ngữ học, khi tiếng Hà Nội không thể đại diện cho một diện mạo ngữ âm trung thực và khách quan của tiếng Việt. Trên thực tế, tiếng Việt có nhiều vùng phương ngữ, thổ ngữ khác nhau với các biến thể đặc điểm ngữ âm, từ vựng khác nhau. Nếu chỉ dựa vào hệ thống ngữ âm tiếng Hà Nội để làm cơ sở cải tiến chữ viết thì không phản ánh trung thực và đầy đủ ngữ âm tiếng Việt, lại có thể làm tăng vọt số lượng các từ đồng âm, đồng tự…

Trong khi phương ngữ các vùng miền đã và đang hoàn thiện, tự “giao du” và chấp nhận lẫn nhau, sẽ vào trong tiếng toàn dân…; thì ngược lại, có chuyên gia đang muốn “xẻ” ngôn ngữ các vùng miền hoặc tạo ra những tranh luận không cần thiết về cải cách chữ viết. Bức tranh đăng kèm bài viết này được chọn in trên bìa cuốn “Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX”, nguyên bản tiếng Pháp. Giáo sư Lê Thành Khôi, tác giả cuốn sách, được cố giáo sư Phan Huy Lê nhận xét là nhà sử học, học giả uyên thâm. Nhưng hãy nhìn kỹ dòng chữ trên bức tranh: “Đinh Tiên Hoàng tập chận mấy chẻ mục đồng”. Việc tác giả giữ nguyên vài lỗi phát âm trên dòng chữ đó (tập trận/tập chận, mấy/với, trẻ/chẻ) không chỉ tôn trọng ảnh gốc, mà dường như còn ngụ ý tôn trọng sắc thái phương ngữ. Phương ngữ còn cố gìn giữ, thì hà cớ gì ngôn ngữ chung đang được cộng đồng chấp nhận lại cứ bị xáo trộn?

H.X.H