Nghi tiết đón tiếp sứ bộ Đại Nam tại Paris năm 1863

Trong lịch sử bang giao của Đại Nam, có thể coi sứ bộ sang Pháp năm 1863 là một trường hợp đặc biệt, vượt ra khỏi không gian châu Átruyền thống để chính thức thông thương với một nước phương Tây. Điểm đáng tiếc là những tiếp xúc giữa Đại Nam với phương Tây ngày một

Hoàng đế Pháp tiếp đón trọng thể sứ đoàn Đại Nam tại sân đại triều nghi điện Tuileries (Le Monde lllustré 21.11.1963)

căng thẳng dần, phát xuất từ sự dị biệt văn hóa và văn minh, nhất là những cực đoan trong tôn giáo tín ngưỡng từ cả hai phía, đã dẫn tới những đụng độ vũ trang ngày càng nặng nề, mà đỉnh điểm là chiến cuộc Đà Nẵng 1858, rồi sự hiện diện của quân viễn chinh Pháp ở Nam kỳ, Bắc kỳ và sau cùng là Huế.

Sau khi mất ba tỉnh miền đông Nam kỳ, Triều đình Huế đã có nhiều nỗ lực để cứu vãn tình hình và theo đó, cả hai phía đều có những sứ đoàn đàm phán tại Huế, tại Nam kỳ và đặc biệt là sứ bộ Đại Nam đã hiện diện tại đô thành Pháp quốc vào năm 1863.

Tháng giêng năm Quý Hợi (1863), người Pháp cho phái viên đến báo kỳ sứ tháng 2 để bàn bạc nội dung khi sứ bộ tới. Vua Tự Đức cử Phạm Phú Thứ sung Khâm sai đại thần vào Nam, cùng bàn bạc với Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp (Lâm Duy Hiệp), như lệ năm trước đã bàn việc tiến thoái, nghi tiết triều yết, đến nay cùng bàn với đại diện phía Pháp và Tây Ban Nha để bàn nghi lễ, chọn theo tục nước họ hay theo lễ nước ta cho phù hợp. Xong việc phải hồi Kinh ngay để bàn việc tiếp đón sứ bộ.(1) Đến tháng 2, sứ thần hai nước là Phô-na, Bờ-lăng Ca vào Kinh, sứ đoàn gồm 2 chánh sứ, 2 phó sứ, 2 bồi sứ, 2 tham biện, võ chức quản lĩnh 4 người, lục sự 2 người, tham tán 1 người, cộng 16 viên danh. Sứ đoàn đi trên 5 chiếc thuyền, mỗi chiếc có hơn 150 quân nhưng khi đến cửa Đà Nẵng thì chỉ được đem theo 1 chiếc thuyền và 100 lính, ra đến cửa Thuận An lại phải đi bộ đến Kinh. Nghi tiết trên hành trình từ Đà Nẵng đến Thuận An, cụ thể như những điều khoản thết tiệc, cung đốn, hộ tống thì tham chước theo điển lệ tiếp đón sứ Xiêm nhưng có phần hậu hơn. Phía triều đình Huế cử thêm Thự Phủ sự Trung quân Đoàn Thọ, Thượng thư bộ Binh Trần Tiễn Thành cùng phái đoàn cũ gồm Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp, Phạm Phú Thứ đều sung vào công việc tiếp đãi tiệc tùng và thương thuyết.

Sứ thần hai nước Pháp, Tây Ban Nha trình quốc thư và tặng phẩm ngoại giao, nhờ quan chức trách dâng lên. Ngày đến cửa biển Thuận An, sứ thần cử một người dâng phẩm hạng để ở sứ quán, triều đình sai quan kiểm nhận để đợi quốc thư cùng tiến Kinh. Ngày sứ thần dâng quốc thư, triều đình cử khâm phái đại thần đem đồ binh trượng, long đình, tàn lọng, nhã nhạc đến tiếp đệ, dâng lên Hoàng thượng, xem xong lại rước quốc thư nước ta kính đệ đến nhà sứ quán đúng như nghi thức, giao cho sứ thần. Chính trong bối cảnh này, phía Pháp có ý trao trả Vĩnh Long nên triều đình cử Phan Thanh Giản theo sứ đoàn vào Gia Định nghị bàn, trong vòng một tháng.(2)

Đến tháng 5, triều đình cử Hiệp biện Đại học sĩ Phan Thanh Giản làm Chánh sứ, Lại bộ Tả tham tri Phạm Phú Thứ làm Phó sứ, Án sát Quảng Nam Nguỵ Khắc Đản làm Bồi sứ đi sứ Tây dương, tập trung luận bàn một số vấn đề cốt lõi như truyền giáo, bồi thường chiến phí và xin chuộc ba tỉnh Biên Hoà, Gia Định, Định Tường và xứ Côn Lôn, với nhiều phẩm vật trân quí như con long mã bằng vàng, con phượng bằng vàng, ngọc tốt, kiếm vàng, khay ngọc, chậu rửa bạc, chậu rửa tay bạc, hộp bạc có ngăn bằng ngà, bình bằng bạc bịt vàng.(3)

Đến Pháp, sứ đoàn Đại Nam được Hoàng đế Napoléon III của nước Pháp đón tiếp trọng hậu theo điển chế ngoại giao quốc gia. Những thông tin quí giá trên các tờ báo Moniteur (4) và đặc biệt là tờ Le Pays (số ra ngày 9/11/1863) (5) đã cho biết rất cụ thể về điều đó.

Có thể nói việc đón sứ đoàn ngoại giao từ triều đình Đại Nam là một sự kiện chính trị trọng đại trong bối cảnh nước Pháp đương thời, bởi chính báo Moniteur đã từng dành vị trí trang trọng trong trang chính để tường trình về việc tiếp đón trịnh trọng của Hoàng đế nước Pháp Napoléon III đối với phái đoàn ngoại giao Đại Nam. Để rồi từ đó, Le Pays muốn ghi lại rõ hơn sự kiện này trong tờ báo chính thức của nền Cộng Hòa Pháp, ở ngay trang đầu tiên, theo tác giả L. Chauvet.

Vào ngày 5/11/1863,[1] Hoàng đế nước Pháp cùng Hoàng hậu đã long trọng đón tiếp tại cung điện Tuileries của thủ đô Ba Lê (Paris) hoa lệ sứ đoàn ngoại giao Đại Nam. Sứ đoàn bao gồm ngài Phan Thanh Giản, Chánh sứ của vua Đại Nam, Hiệp biện Đại Học sĩ, Kinh lược sứ Nam Kỳ, 68 tuổi, quê ở Vĩnh Long; ngài Phạm Phú Thứ, Phó sứ, Tả Tham tri bộ Lại, 44 tuổi, quê ở Quảng Nam; ngài Ngụy Khắc Đản, Bồi sứ, Án sát sứ tỉnh Quảng Nam, 48 tuổi, quê Nghệ An.

Tháp tùng phái đoàn của ba ngài này còn có nhiều quan lại văn võ, có người đảm trách việc dâng quà tặng cũng như là trợ giúp những công việc khác.

Đứng cạnh Hoàng đế và Hoàng hậu bên ngai vàng, còn có Thái tử. Xung quanh là những trọng thần của triều đình, tổng tư lệnh quân đội bảo vệ hoàng gia (Ngự lâm quân), những quí bà danh dự của Hoàng hậu, các vị quan chức cùng phu nhân trong triều. Ngài bộ trưởng bộ Ngoại giao Pháp cũng có mặt trong buổi tiếp đón.

Ngài Phan Thanh Giản đã đọc diễn văn bằng tiếng Việt ngỏ lời tới Hoàng đế và được dịch ra tiếng Pháp bởi thiếu tá hải quân, chỉ huy chiến hạm, Louis Gabriel Aubaret, người đại diện cho bộ Ngoại giao, đặc trách để giải quyết công việc với các vị sứ giả Đại Nam. Sau đó, ngài Chánh sứ Phan Thanh Giản đã trao những quốc thư của hoàng đế Đại Nam lên cho Hoàng đế nước Pháp.

Sau khi Hoàng đế trả lời đáp lễ, ngài Chánh sứ đã trân trọng trao quà của hoàng đế Đại Nam Tự Đức, tới Hoàng đế và Hoàng hậu nước Pháp. Những món quà này đã được vận chuyển tới cung điện Tuileries vào buổi sáng cùng ngày.

Về phía Pháp, người chủ trì nghi lễ cùng thuộc cấp của ông ta đã đến đón sứ đoàn Việt Nam đến ở khách sạn với những xe danh dự của Vương quốc để đưa họ vào cung điện Tuileries.

Phái đoàn Việt Nam tiến vào sảnh của cung điện Tuleries qua Khải hoàn môn. Một tiểu đoàn danh dự của bộ binh Hoàng gia đứng chào theo nghi lễ từ cổng đến giữa tòa nhà.

Sau khi nghi lễ tiếp đón kết thúc, những vị sứ giả cùng sứ đoàn Đại Nam đã được long trọng đưa trở về khách sạn, tương tự như với nghi thức đón tiếp họ đến cung điện Tuileries.

Hoàng đế Napoléon III ban đầu cũng có ý trả lại ba tỉnh miền Đông cho triều Nguyễn như hiệp ước mà Aubaret soạn thảo. Tuy nhiên các nhân vật đứng đầu Bộ Hải quân và Bộ Thuộc địa của chính phủ Pháp đã cực lực chống đối vì họ thấy đây là cơ hội ngàn vàng đề xâm chiếm một xứ sở giàu có, quảng bá uy thế của nước Pháp và dĩ nhiên để mở rộng quyền lực của họ. Cuối cùng họ đã thuyết phục được Hoàng đế Napoléon III từ bỏ ý định phê chuẩn hiệp ước. Chính quyền đô hộ ba tỉnh miền Đông được củng cố ngày càng vững mạnh. Tháng 7 năm 1867, đô đốc La Grandière đưa quân chiếm nốt ba tỉnh miền tây Nam kỳ. Phan Thanh Giản, người đứng đầu phe chủ hòa và là Tổng đốc vùng này tự tử. Từ vấn đề chính yếu là những xung đột trong đời sống tôn giáo tín ngưỡng và thương mại, quan hệ Việt – Pháp ngày càng căng thẳng, chuyển dần từ giao thiệp sang đụng độ, chiến tranh lan dần ra Bắc kỳ và đỉnh điểm là sự biến thất thủ Thuận An năm Quý Mùi (1883) và thất thủ Kinh đô Huế năm Ất Dậu (1885). Một chương mất nước đầy tủi nhục của dân tộc Việt đã thành hình.

P.P.C

(*) Hậu duệ gia tộc Phạm Phú, thành viên hội đồng nhân dân thành phố Lognes, Cộng hòa Pháp.

(1) QSQ triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục (bản dịch của Viện Sử học), H.: Nxb. Giáo Dục, tập VII, tr. 803, 805.

(2) QSQ triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục, Tlđd, tập VII, tr. 806.

(3) QSQ triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục, Tlđd, tập VII, tr. 812-814.

(4) Báo Moniteur thành lập năm 1789 và hoạt động kéo dài cho tới năm 1901. Trong một thời gian dài, đây là tờ báo chính thức của chính phủ Pháp, thường xuyên đưa tin những sự kiện diễn ra ở quốc hội Pháp.

(5) Báo Le Pays có quá trình xuất bản từ năm 1848 đến năm 1914. Đây là tờ báo chính thức và là cơ quan ngôn luận của nền Đệ nhị Cộng hòa Pháp, kéo dài đến năm 1870.

[1] A.H. (1863), “Reception par S.M. l’Empereur des ambassadeurs annamites”, Le Monde Illustré, ngày 21/11/1863 (trang 327-330).