Lưu giữ nghệ thuật Tuồng xứ Quảng 

Tuồng (còn gọi là Hát bội hay Hát bộ) là một loại hình nghệ thuật sân khấu mang tính cổ điển và độc đáo của dân tộc Việt Nam. Nghệ thuật Tuồng ở Việt Nam được hình thành từ miền Bắc, sau đó theo binh lính chúa Nguyễn vào Đàng Trong và phát triển cực thịnh ở đây vào thế kỷ XVII – XVIII. Sang triều Nguyễn (thế kỷ XIX), Tuồng vẫn giữ vị trí xứng đáng trong đời sống văn hóa ở cung đình và ngoài xã hội. Theo dòng chảy của lịch sử, Tuồng xứ Quảng với không gian tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng và Quảng Ngãi, xuất hiện và phát triển từ đầu thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XVIII. Mở đầu là sự ra đời và hoạt động của hai gánh hát Đức Giáo (nay thuộc xã Quế Châu, huyện Quế Sơn) và gánh hát Khánh Thọ (nay thuộc xã Tam Thái, huyện Phú Ninh) ra đời vào khoảng đầu thế kỷ XIX và có nguồn gốc từ Tuồng cung đình Huế.

Truyền thống nghệ thuật Tuồng của làng Khánh Đức có từ đầu thế kỷ XIX khi một nhóm nghệ sĩ hát bội tại kinh thành Huế đến định cư và lập một làng riêng ngay trong lòng làng Khánh Đức lấy tên là Đức Giáo. Họ đã chọn trung tâm thung lũng Quế Sơn làm nơi định cư mới và hành nghề ca bộ. Gánh hát Đức Giáo nhờ mối quan hệ gần gũi với cung đình cùng phong cách nghệ thuật chính thống đã có một chỗ đứng nhất định trong giới ca bộ lúc bấy giờ. Nghệ sĩ Tuồng Đức Giáo thường được mời về kinh biểu diễn, có lúc gánh hát làng Đức Giáo còn được vua Nguyễn sắc phong là làng Nhị ca chỉ đứng sau cung đình. Sau làng Khánh Đức, gánh hát Khánh Thọ tương truyền có từ thời Gia Long (1802-1820) do một nhóm dân nghèo lập gánh mua vui rồi thành nghiệp, được xem là gánh hát của người nghèo, được yêu thích bởi sự dân dã, gần gũi với đời sống thường nhật của người dân. Vào thời huy hoàng nhất, cùng với sự hưng thịnh của Đức Giáo và Khánh Thọ, trên khắp vùng Quảng Nam, nhiều trường Tuồng, rạp hát ra đời. Một thời gian dài, nghệ thuật Tuồng đã ăn sâu vào đời sống tinh thần của người dân xứ Quảng.  Từ sân bãi đầu làng, cuối xóm, mỗi khi có đoàn Tuồng về biểu diễn thường chật kín người xem. Đến khoảng những năm 70 của thế kỷ XIX, ở Quảng Nam và Đà Nẵng đã hình thành nên một số vùng khá tiêu biểu như Tiên Phước, Nông Sơn, Điện Bàn, Hội An, Đại Lộc, Túy Loan, Miếu Bông, Chợ Mới… được tổ chức, quản lý tương đối nề nếp, có quy mô, lực lượng diễn viên có trình độ đồng đều và đã thể hiện một bước chuyển biến thật sự của nghệ thuật Tuồng, từ phương thức hoạt động sân khấu nông thôn sang sân khấu đô thị, từ thực hành tín ngưỡng sang biểu diễn giải trí. Giai đoạn này là thời kỳ cực thịnh của Tuồng Quảng Nam với nhiều gánh hát bán chuyên nghiệp như: gánh hát Nhưng Giai, Nhưng Bính; Bàu Toa; Chánh Lơn và các gánh hát chuyên nghiệp như Quảng Hiệp Ban, Tân Thành Ban, Ý Hiệp miền Trung.

Hành trình trò bội – hát Tuồng – nghệ thuật Tuồng là một quá trình trải dài mấy trăm năm. Từ trò diễn xướng dân gian đến nghệ thuật cung đình, từ chiếu Tuồng đến nghệ thuật sân khấu Tuồng là một quá trình vừa khai sáng, vừa tích lũy, vừa chọn lọc, vừa bổ sung đối với các nghệ sĩ xứ Quảng. Đây là thời kỳ hoạt động Tuồng sân, người nghệ sĩ không diễn cố định ở một địa điểm mà lưu diễn khắp nơi, từ sân đình, sân nhà cho tới bãi làng. Từ hai gánh hát Đức Giáo và Khánh Thọ này, nghệ thuật Tuồng phát triển rộng ra các vùng khác trong tỉnh Quảng Nam và TP. Đà Nẵng. Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, Tuồng ở Quảng Nam trong giai đoạn này có bản sắc riêng, không bị pha tạp. Các đoàn Tuồng ngoài việc diễn trong tỉnh còn thường xuyên lưu diễn ở các tỉnh phía Nam như Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên; phía Bắc có Huế, Quảng Trị. Một số diễn viên xuất sắc được vua quan triều Nguyễn sung vào các đoàn Tuồng triều đình. Sự giao lưu nghệ thuật dẫn đến sự học hỏi các chuẩn mực của dòng Tuồng cung đình, làm phong phú hơn nghệ thuật Tuồng dân gian của Quảng Nam.

Tuồng xứ Quảng vừa thừa hưởng của nghệ thuật Tuồng cung đình Huế, vừa có sự giao thoa với Tuồng Bình Định. Cái khác biệt lớn nhất giữa Tuồng Bình Định và Quảng Nam là hát khách: Tuồng Bình Định hát nhịp ngoại Tuồng Quảng Nam hát nhịp nội. Ngoài ra, Tuồng cổ Quảng Nam còn sở hữu dòng Tuồng thiên về hát và biểu diễn nội tâm; có một phong cách khá riêng, rất đặc trưng. Đặc biệt, Quảng Nam sở hữu dòng Tuồng văn, tức là thiên về hát và biểu diễn nội tâm mà đại đa số khán giả rất thích và đam mê. Nhạc sĩ Trần Hồng, người chuyên nghiên cứu về âm nhạc truyền thống cho rằng, sự khác biệt đó còn được thể hiện ở “cái trống chiến” Tuồng Quảng Nam khi được đánh lên. Ngoài những điểm chung của nghệ thuật tuồng Việt Nam, Tuồng Quảng Nam còn có những đặc trưng riêng. Tuồng Quảng Nam với nguồn gốc lịch sử và nghệ thuật Tuồng riêng của xứ Quảng, cũng đã góp phần nâng cao giá trị nghệ thuật Tuồng truyền thống Việt Nam cho đến ngày nay. Những năm đầu thập kỷ 20 thế kỷ XX, nghệ thuật Tuồng Quảng Nam có hai xu hướng: trung thành với những giá trị truyền thống của Tuồng hoặc đổi mới. Tiêu biểu cho xu hướng trung thành với giá trị truyền thống, là sự ra đời Quảng Hiệp Ban (1932) của danh ca Chánh Đệ với sự tham gia của các bậc kỳ tài về nghệ thuật Tuồng. Bên cạnh đó, có những gánh hát đã tiếp thu cái mới để làm phong phú hơn nghệ thuật Tuồng.

Nghệ thuật Tuồng Việt Nam nói chung và Tuồng cổ Quảng Nam nói riêng rất phong phú, đa dạng và độc đáo. Về nghệ thuật, các nhà nghiên cứu sân khấu phân loại Tuồng thành Tuồng thầy, Tuồng ngựTuồng cung đình, Tuồng pho, Tuồng đồ. Có ba lưu phái Tuồng: Bắc, Nam bộ và Trung Bộ. Tuy nhiên, Tuồng Trung Bộ phong phú và mang màu sắc dân tộc hơn cả, trong đó Quảng Nam được coi là cái nôi của Tuồng với những tên tuổi nổi tiếng như Nguyễn Hiển Dĩnh, Tống Phước Phổ, Nguyễn Nho Túy, Nguyễn LaiNgô Thị LiễuNguyễn Phẩm

Với những giá trị độc đáo trong kho tàng văn hóa, các vở diễn Tuồng cổ Quảng Nam ước tính có đến vài chục tác phẩm nhưng lâu dần bị thất lạc phần lớn, trong đó có thể kể vài vở đặc trưng như: Sơn Hậu, Tam nữ đồ vương, Đào Phi Phụng, Trưng Nữ Vương đề cờ… Vở Tuồng Sơn Hậu được xem là vở Tuồng cổ đầu tiên của Quảng Nam, tương truyền do Đào Duy Từ sáng tác vào giữa thế kỷ XVII dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Một vở Tuồng được diễn trước công chúng là sự kết hợp của nhiều yếu tố nghệ thuật như: kịch bản, âm nhạc, múa, nghệ thuật hóa trang, phục trang… Kịch bản Tuồng có thể chia làm 4 loại: Tuồng cổ, Tuồng hàn lâm – Tuồng cung đình, Tuồng dân gian và Tuồng hài. Kịch bảnTuồng khá chặt chẽ, có những quy luật riêng. Đề tài, nội dung tư tưởng của kịch Tuồng mang đặc trưng thẩm mỹ là bi hùng, với những tấm gương tận trung báo quốc, xả thân vì đại nghĩa, những bài học về thái độ ứng xử của con người giữa cái chung và cái riêng, giữa gia đình và Tổ quốc. Nhân vật trong nghệ thuật Tuồng gồm: đào, kép, lão, nịnh, tướng, yêu tinh; thuộc hai phe: phản diện và chính nghĩa.

Về phong cách nghệ thuật sân khấu, cách hát Tuồng xứ Quảng “thiện hát nam” vì ở đây hát nhịp nội hay còn gọi là “dập nhịp”, nghĩa là tiếng hát dập vào tiếng phách của trống chiến. Hát nhịp nội nghe mềm mại, uyển chuyển, tình cảm nên hợp với hơi bi ai của hát nam. Dàn nhạc Tuồng có vị trí quan trọng, hỗ trợ đắc lực cho diễn xuất, cổ vũ diễn viên hòa nhập với nhân vật, đồng thời tạo cảm hứng cho khán giả. Múa Tuồng – phương tiện chính để lột tả tính cách, tâm trạng nhân vật. Đặc biệt, Tuồng xứ Quảng chuộng về Tuồng văn, múa ít, động tác nhẹ nhàng, uyển chuyển, ít khai thác động tác võ thuật.

Nghệ thuật hóa trang là điểm nổi bật, gây ấn tượng của Tuồng với ba màu chủ đạo: trắng, đen, đỏ. Thủ pháp “tạo khối” được sử dụng để thể hiện hình tượng nhân vật; dựa trên màu vẽ khuôn mặt, các đường nét có thể nhận biết đó là nhân vật trung hay gian, thiện hay ác. Phục trang của Tuồng phong phú, đặc trưng cho từng nhân vật, bao gồm: mão, bào, giáp, cờ lệnh, mang, long chấn, áo đào, áo nhật bình, áo song khai, áo sĩ, áo thụng, áo bối tử, áo bá nạp, áo chit/ áo chẽn, áo yểm tâm, xiêm trường, quần giáp, xa phu, củn, mão/ mũ, râu ria, hia. Sân khấu Tuồng mang tính ước lệ tượng trưng. Nhờ tài năng diễn xuất của diễn viên mà khán giả có thể cảm nhận được những nét tinh tế của nghệ thuật Tuồng.

Với những giá trị đặc trưng và độc đáo của loại hình nghệ thuật truyền thống dân tộc, ngày 08 tháng 6 năm 2015, nghệ thuật Tuồng xứ Quảng đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định ghi vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 1877/QĐ-BVHTTDL. Ngày nay, Quảng Nam có hiện có 12 câu lạc bộ, đội Tuồng ở các địa phương. Họ vẫn đến với khán giả bằng cốt cách chân – thiện – mỹ của người Việt sống luôn có tình, có nghĩa thông qua các vở diễn. Từ lâu, với người dân xứ Quảng, nghệ thuậttuồng đã trở thành món ăn tinh thần thấm sâu vào tiềm thức của những con người nơi đây. Với việc thể hiện rõ nét các đạo lý giáo dục nhân cách con người, nêu lên các tấm gương tận trung vì đại nghĩa, những bài học về đối nhân xử thế của con người giữa cái chung và cái riêng, giữa gia đình và tổ quốc, Tuồng Quảng Nam thẫm đẫm những giá trị nhân văn và những ước mơ, những khao khát của con người nơi miền quê đầy mưa nắng. Và hôm nay, câu chuyện thăng trầm của nghệ thuật tuồng Quảng Nam là điều khó tránh khỏi trong cuộc sống đương đại. Nhưng phải thừa nhận rằng ảnh hưởng của Tuồng vẫn còn sâu đậm.  Ở huyện Quế Sơn, 13 xã đều có câu lạc bộ Tuồng, có cả lớp “Tuồng Đồng ấu”. Mỗi câu lạc bộ có quy mô 15 – 20 diễn viên quần chúng với nhiều độ tuổi, từ bậc cao niên cho đến những học sinh tiểu học, vốn có niềm đam mê với Tuồng và các loại hình dân ca; ở xã Quế Trung, huyện Nông Sơn, vào dịp lễ hội, xuân về cũng có những nghệ sĩ nghiệp dư trình diễn; ở huyện Duy Xuyên, hơn 20 năm qua, Hội Bảo trợ Tuồng đã hoạt động rất tích cực và Đoàntuồng Sông Thu của huyện đã được đông đảo người dân yêu thích. Đặc biệt, năm 2018, ở Quảng Nam có hai nghệ sĩ Tuồng được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú trong lĩnh vực văn hóa phi vật thể là ông Nguyễn Quỳnh và bà Nguyễn Thị Thu Trang.

Như vậy, có thể thấy rằng, còn khán giả là nghệ thuật Tuồng còn có khả năng, niềm tin phục vụ công chúng, như lúc sinh thời giáo sư Hoàng Châu Ký, người từng có nhiều hoài bão về hồi sinh tuồng và có công lớn trong việc xây dựng, biên soạn nhiều công trình bảo tồn nghệ thuật Tuồng Quảng Nam đã nói: “Đất Tuồng còn rộng, còn nhiều chỗ màu mỡ vẫn bị bỏ hoang, việc khôi phục, khai thác phải làm dài lâu, tôi tin tưởng có một mùa hoa lợi trong tương lai, cho dù lúc ấy tôi không còn nữa”. Hoặc như NSND Nguyễn Lai trước lúc qua đời cũng mong ước: “Đừng để mai một nghệ thuật này của ông cha ta”.

                                                                                              N.P