Làng Thanh Hà xưa ở Hội An                                                             

Nằm trong chương trình “Điều tra, nghiên cứu đề xuất hướng bảo tồn, phát huy di sản văn hóa làng Thanh Hà” do Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An thực hiện, trên cơ sở tiếp cận nhiều nguồn tài liệu như tư liệu Hán Nôm, các bộ sử quán triều Nguyễn, Quảng Nam xã chí… chúng tôi xin giới thiệu một số thông tin tổng quát về làng Thanh Hà trước năm 1945.

Trang đầu địa bạ làng Thanh Hà lập năm Gia Long năm thứ 17 (Bản sao hiện lưu trữ tại Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An)

Thanh Hà là một trong những làng, xã hình thành sớm ở Hội An, vào khoảng thế kỷ XVI-XVII. Về lịch sử ra đời của làng Thanh Hà hiện chưa có tư liệu xác định niên đại cụ thể quá trình thành lập làng. Tuy nhiên, qua tiếp cận một số văn bản Hán Nôm (gia phả, khế ước…) hiện đang được lưu trữ tại Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An, bước đầu chúng tôi xác định được niên đại xuất hiện tên gọi Thanh Hà. Tư liệu sớm nhất chúng tôi tiếp cận được là một ghi chép trong cuốn sổ ngân lễ làng Minh Hương năm 1747 có ghi lại việc viên chức làng Minh Hương cử người đến Thanh Hà mua bảy chiếc chậu để trồng một số loài hoa quý biếu quan Cai Án kiêm Tri Tàu Vụ (1). Một số tư liệu nhắc đến Thanh Hà muộn hơn có thể kể đến như: Trong Gia phả tộc Trần (nhà số 21 Lê Lợi) tên gọi Thanh Hà được nhắc đến vào năm Cảnh Hưng thứ 43 (1782), trong văn khế bán đất của ông Từ Cứ và em ruột Từ Thị Hòa ở xã Minh Hương (nhà số 143 Trần Phú)  tên gọi Thanh Hà được nhắc đến vào năm Thái Đức thứ 5 (1782), trong Bản thẩm án của mẹ Thừa họ Lý (nhà số132 Trần Phú) tên gọi Thanh Hà được nhắc đến vào năm Cảnh Thịnh thứ 2 (1794)… Đặc biệt, trong gia phả của các tộc Nguyễn Viết, Võ Văn cho biết ông tổ của họ từ Thanh Hóa vào Thanh Hà khai khẩn đất đai và lập đình làng đến nay đã được 18 đời. Với cách tính ước lượng mỗi đời khoảng 25 đến 30 năm thì làng Thanh Hà được thành lập vào khoảng thế kỷ XV-XVI (2).

Nguồn tư liệu thứ hai chúng tôi tiếp cận để tìm hiểu về làng Thanh Hà là các tác phẩm biên soạn dưới thời các vua nhà Nguyễn, qua tra cứu thì tài liệu nhắc đến Thanh Hà sớm nhất là tác phẩm Hoàng Việt nhất thống dư địa chí của Lê Quang Định được biên soạn dưới thời vua Gia Long, làng Thanh Hà được tác giả nhắc đến như sau “…1135 tầm, phía Nam dọc theo sông, phía Bắc có dân cư rất trù mật, đến bến đò sông Thanh Hà, sông rộng 69 tầm, nước sâu 2 tầm, trong và ngọt, từ đây đi ngược lên thì đến ruộng đồng xã Cổ Lưu là hết, xuôi xuống dưới thì hợp lưu với sông lớn.

742 tầm, bên Nam chạy dọc theo phù sa của sông, bên Bắc là dân cư xã Thanh Hà, dân ở đây chuyên làm nghề đúc gạch ngói, làm lò gốm và nấu vôi trắng, đến nền cũ miếu Bát Vị, ở địa phận xã Thanh Hà” (3).

Đến thời vua Tự Đức, trong tác phẩm Đại Nam nhất thống chí tên gọi Thanh Hà được nhắc đến như sau: Trong phần mục khe đầm có ghi “kênh Thanh Hà ở phía Đông huyện Diên Phước, nước từ chỗ tận cùng nguồn Quảng Lăng,chảy theo hướng Đông Nam vào sông chợ Củi. Lại có một đầm tên là Như Quế” (4). Trong mục đường nhỏ, phủ Điện Bàn “… một đường từ phía Đông phủ l qua xã Thanh Hà đến xã Cẩm Phô thông Toà sứ Pháp, thẳng tới sở Thương chính cửa biển Đại Chiêm, thuộc địa phận xã Phước Trạch…” (5). Trong mục cầu cống “… cầu Thanh Hà có năm cầu: một cầu dài 165,6 thước tây, một cầu dài 21,3 thước tây, một cầu dài 11,3 thước tây, một cầu dài 5, 2 thước tây, một cầu dài 3,2 thước tây (6), … cống đá Thanh Hà ở xã Thanh Hà, có 3 cống: một cống dài 6 thước tây, một cống dài 8,2 thước tây, một cống dài 15 thước tây và một cống gác sắt dài 2 thước tây” (7). Trong mục thổ sản “đồ gốm sản xuất ở xã Thanh Hà, huyện Diên Phước, có hộ chuyên” (8). Đến thời vua Đồng Khánh, trong tác phẩm Đồng Khánh dư địa chí ghi “xã Thanh Hà thuộc tổng Phú Triêm hạ, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” (9). Có thể nói dưới triều nhà Nguyễn, các làng, xã ở Quảng Nam được ghi chép khá nhiều, trong đó làng, xã Thanh Hà được ghi chép nhiều hơn so với một số làng, xã khác ở Hội An xuất hiện cùng thời.

Về địa giới và diện tích làng, xã Thanh Hà, theo địa bạ Thanh Hà được lập vào thời vua Gia Long thì xã Thanh Hà thuộc tổng Phú Triêm hạ, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Về địa giới, xã Thanh Hà Đông giáp xã phụ lũy Cẩm Phố, xã An Tân, xã An Mỹ, phường Xuân Mỹ (tổng An Nhơn Trung), châu Kim Bồng (thuộc Hoa Châu, huyện Duy Xuyên); xã Hòa An, lập cọc gỗ làm giới. Tây giáp xã Phú Chiêm (tổng An Nhơn Trung), xã Lai Nghi, xã An Lưu. Nam giáp xã An Mỹ, xã Tân An và sông. Bắc giáp xã Tân An, xã Hòa An, lập cọc gỗ làm giới. Toàn diện tích xã là 2295.9.14.9 (đọc là 2295 mẫu, 9 sào, 14 thước, 9 tấc) gồm công điền là 190 mẫu 2 sào 1 thước 5 tấc; Tư điền là 290 mẫu 8 sào 11 thước 3 tấc; Công thổ là 4 mẫu 3 sào; Tư thổ là 5 mẫu 5 sào 1 tấc; Công điền cho nơi khác là 1 sào; Tư điền của người nơi khác là 1 mẫu 6 sào; Thần từ Phật tự là 5 mẫu; Mộ địa là 372 mẫu 2 sào14 thước; Thổ phụ là 260 mẫu 1 sào 8 thước; Hoang nhàn là 1165 mẫu 9 sào 10 thước (10). Ngoài ra, trong tập địa bạ này còn ghi chép nhiều thông tin về các xứ, các cồn, bàu, di tích… ở Thanh Hà (11).

Vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX với việc dân cư tăng nhanh và diện tích được mở rộng, một số làng, xã ở Hội An có quy mô dân số, diện tích đất phát triển đã tách ra thành các làng nhỏ hoặc dưới làng hình thành các thôn, sau đổi thành ấp, làng Thanh Hà lúc này được chia thành 13 ấp gồm Hậu Xá, Thanh Chiếm, An Bang, Bộc Thủy, Nam Diêu, Cửa Suối, Bầu Ốc, Trảng Kèo, Trảng Sỏi, Đồng Nà, Trà Quế, Cồn Động, Bến Trễ (12). Hiện nay, làng, xã Thanh Hà là địa bàn chính của phường Thanh Hà, xã Cẩm Hà và một phần nhỏ diện tích phường Tân An và xã Cẩm An.

Về văn hóa vật thể và phi vật thể của làng Thanh Hà, chúng tôi tiếp cận những thông tin điều tra, khảo sát làng Thanh Hà vào những năm 1943-1944 trong tác phẩm Quảng Nam xã chí của Viện Viễn Đông Bác cổ thực hiện. Trong phần ghi chép về làng, xã ở Hội An cho biết, làng Thanh Hà có 8 tộc tiền hiền gọi là bát tôn gồm Nguyễn Văn, Nguyễn Viết, Nguyễn Đức, Nguyễn Kim, Ngụy Như, Bùi Phước, Võ Đình, Võ Văn. Về sắc thần, bấy giờ trong làng đang giữ 27 đạo sắc thần có niên hiệu từ đời vua Minh Mạng đến Khải Định. Làng Thanh Hà có nhiều người đỗ đạt cao và làm quan như Thượng thư bộ binh Nguyễn Văn Điển, Hồng Lô tự khanh Nguyễn Duy Hiệu, Hàn lâm viện Tu soạn Nguyễn Viết Tường, Hàn lâm viện Thị độc học sĩ Nguyễn Văn Yến…

Cư dân làng Thanh Hà làm nhiều nghề như ngói, gạch, làm đồ gốm… Làng cũng có nghề đánh cá, trong đó cư dân ấp Cồn Động chuyên nghề làm cá. Dân ấp này đi biển được cốt Ngọc Lân hốt lên chôn cất, xin sắc phong phụng thờ để nhờ ngài cứu độ cho dân làm nghề đánh cá. Nghề làm nông chiếm một nửa dân số của làng. Làng cũng có nhiều thợ gạch ngói giỏi được triều đình nhà Nguyễn tuyển mộ tham gia xây dựng các cung điện, lăng tẩm ở Huế và được cấp bằng, phong tượng mục như cấp bằng cho ông Bùi Phước Thạnh rành nghề nấu ngói và gạch lưu ly chức chánh cửu phẩm tượng mục năm Minh Mạng thứ 10 (1829), Sắc cho ông Bùi Phước Châu rành nghề nấu ngói chức tòng cửu phẩm tượng mục năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), Sắc cho ông Võ Văn Hòa chức tòng cửu phẩm tượng mục năm Tự Đức thứ 14 (1861)…

Đặc biệt, cư dân đã xây dựng đình làng Thanh Hà làm nơi sinh hoạt tín ngưỡng chung của cộng đồng. Trong tác phẩm Quảng Nam xã chí ghi đình làng Thanh Hà từ ngoài đường nhìn vào là một ngôi nhà cũ kỹ trong núi rừng dương tươi rậm. Lần vào mà xem thì là một cái nhà rộng thênh thang, gỗ toàn là cây danh mộc, lợp ngói dày, xây chắc chắn. Hậu tẩm là nhà cổ lầu nhỏ, cách đình bởi một gian cửa gỗ, trong hậu tẩm có một cái bàn thờ bằng gỗ thờ Đại Càn và một cái quỵ để sắc. Giữa nhà tiền đường để một cái hương án sơn son thếp vàng ba mặt, hai bên có bàn thờ tiền hiền. Không rõ đình được xây dựng năm nào nhưng được tu bổ vào năm Khải Định thứ 4 (1919). Xung quanh đình có thành bao bọc, cao độ khoảng 1m.

Hai trang thông tin về làng Thanh Hà trong tác phẩm Quảng Nam xã chí

Về việc lễ lệ, đình làng Thanh Hà một năm tế 2 kỳ vào ngày 15 tháng 3 âm lịch và ngày 16 tháng 8 âm lịch. Đình còn tế một ngày kỳ yên vào ngày 20 tháng 8 âm lịch. Việc lễ tế Tiền hiền, Ngũ hành, Thành Hoàng cũng được tổ chức vào các ngày này. Riêng lễ tế Ngọc Lân tổ chức vào ngày 13 tháng 2 âm lịch và mồng 3 tháng 10 âm lịch. Ngoài ra, làng có lệ tống khách vào ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch.

Ngoài việc xây dựng đình làng, nhà thờ tộc, trong làng có nhiều ngôi chùa được xây dựng vào thế kỷ XVII-XVIII. Ngôi chùa được xây dựng đầu tiên là chùa Chúc Thánh. Vào năm 1695 thiền sư Minh Hải – Pháp Bảo vào Hội An đến làng Thanh Hà khai sơn chùa Chúc Thánh. Đồng thời thiền sư xuất kệ truyền thừa hình thành thiền phái Lâm tế Chúc Thánh ở Hội An (13). Kế tiếp là sự ra đời của các ngôi chùa Phước Lâm, Vạn Đức, Long Tuyền. Hiện trong các ngôi chùa này đang lưu giữ nhiều mộc bản, văn bia, chuông đồng… có giá trị lịch sử – văn hóa để tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển Phật giáo Hội An.

Có thể nói, Thanh Hà là một trong những làng, xã hình thành khá sớm ở Hội An, là làng/ xã có bề dày lịch sử – văn hóa, lưu giữ nhiều giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Thông qua tiếp cận một số nguồn tài liệu và thực hiện điều tra, khảo sát thực tế trong thời gian tới sẽ cung cấp nhiều thông tin có giá trị để chúng tôi nghiên cứu di sản văn hóa làng Thanh Hà xưa, qua đó đề xuất những biện pháp bảo tồn và phát huy hiệu quả những giá trị văn hóa này.

                                            P.P.T 

 

Chú thích:

(1). Dẫn theo Trần Văn An (2018), “Một số tư liệu Hán nôm về làng gốm Thanh Hà – Hội An”, Tham luận tọa đàm “Bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống trong bối cảnh phát triển du lịch”.

(2). Dẫn theo Nguyễn Chí Trung (2017), “Làng xã ở Hội An qua các tư liệu thư tịch, bia ký, khảo cổ”, chuyên đề thuộc đề tài Nghiên cứu, biên soạn địa chí Hội An.

(3). Lê Quang Định (2005), Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, Phan Đăng dịch, chú giải và giới thiệu, Nxb Thuận Hóa – Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, tr. 221-222.

(4), (5), (6), (7), (8). Quốc sử quán triều Nguyễn (2012), Đại Nam nhất thống chí, tập 1, bản dịch của Hoàng Văn Lâu, tái bản lần thứ nhất, Nxb Lao động – Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, tr. 351, 363, 368, 371, 390.

(9). Viện Nghiên cứu Hán Nôm; Viện Viễn Đông Bác cổ (2003), Đồng Khánh dư địa chí, do nhóm tác giả Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên… dịch và chú thích, Nxb Thế Giới, Hà Nội, tr.1453.

(10). Dẫn theo Nguyễn Đình Đầu (2010), Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn dinh Quảng Nam, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 208.

(11). Địa bạ Thanh Hà lập năm Gia Long thứ 17 (1818) gồm 475 trang chữ Hán, Bản sao hiện lưu trữ tại Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An.

(12). Dẫn theo Nguyễn Chí Trung (2017), “Làng xã ở Hội An qua các tư liệu thư tịch, bia ký, khảo cổ”, chuyên đề thuộc đề tài Nghiên cứu, biên soạn địa chí Hội An.

(13). Thích Như Tịnh (2009), Lịch sử truyền thừa thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh, Nxb Phương Đông, tr. 139.