Hương Quế – Ngôi làng đặc biệt của xứ Quảng

Làng Hương Quế.

Làng Hương Quế (香桂) nay là các thôn Hương Quế Đông, Hương Quế Trung và Hương Quế Tây thuộc xã Quế Phú, huyện Quế Sơn. Cho đến nay vẫn chưa xác định được một cách chính xác tên Hương Quế xuất hiện từ bao giờ. Người viết bài này đã tra vào các thư tịch cổ cho thấy như sau:

– Sách Ô châu cận lục do Dương Văn An nhuận sắc và tập thành năm 1555 thì trong số 66 làng của huyện Điện Bàn thuộc phủ Triệu Phong, không có địa danh nào liên quan, mặc dù một số làng của Quế Sơn gần đó lại có tên như Mông Lĩnh, Mông Nghệ, Phú Khương…

– Sách Phủ biên tạp lục do Lê Quý Đôn soạn năm 1776, không thấy tên Hương Quế nhưng có các địa danh thuộc Ngũ Hương: Hương Hợp, Hương Phúc, Hương Lộc, Hương An, Hương Sơn, thuộc huyện Duy Xuyên, phủ Thăng Hoa. Bên cạnh đó có địa danh Hương Ly được gọi bằng đơn vị hành chánh lạ là “biệt nạp” với tên Nội phủ Hương Ly xã (địa danh Hương Ly đã có từ thời Hồng Đức được ghi trong sắc phong cho Phạm Nhữ Triều – con Phạm Nhữ Tăng – làm Chánh Đề đốc vào năm Hồng Đức thứ 28,1498).

– Theo Địa bạ Quảng Nam được soạn vào năm Gia Long thứ 12 (1814) ta thấy Tổng Xuân Phú Trung huyện Duy Xuyên cũng có 5 làng có chữ đầu là Hương: Hương Lộc, Hương An, Hương Phúc, Hương Ly và Hương Toàn (Hương Ly còn là tên của một đơn vị hành chánh khác gọi là Hương Ly Tứ chánh).

Làng Đồng Tràm – Một phần của Làng Hương Quế xưa

Đối chiếu các địa danh trên giữa Phủ biên tạp lục (PB) và Địa bạ triều Nguyễn (ĐB) ta thấy hai làng Hương Sơn và Hương Hợp trong Phủ biên được thay bằng hai làng Hương Ly và Hương Toàn. Trong hai sự khác biệt này chúng tôi nghĩ chỉ có địa danh Hương Ly là mới và được đổi từ Hương Sơn sang, còn giữa Hương Toàn và Hương Hợp chỉ là một, có lẽ do nhầm lẫn của các dịch giả vì giữa chữ Toàn và chữ Hợp có tự dạng tương đối giống nhau (合 = Hợp, 6 nét gồm bộ khẩu và 3 nét;  = toàn, 6 nét gồm bộ nhân và 4 nét). Còn Hương Ly là “biệt nạp” trở thành Hương Ly tứ chánh.

Như vậy cho đến thời điểm 1814, địa danh Hương Quế vẫn chưa chính thức được sử dụng.  Đi tìm tiếp trong các thư tịch cũ ta thấy 3 lần có địa danh Hương Quế:

– Sách Quốc triều Hương khoa lục cho biết Phạm Nhữ Khuê (1812-1872) người làng Hương Quế đỗ cử nhân khoa Bính Ngọ (1846) và Tiến sĩ (1849).

– Sách Đồng Khánh Địa dư chí soạn năm 1887-1890, thì tổng Xuân Phú Trung, huyện Quế Sơn có 5 làng có chữ khởi đầu là Hương gồm: Hương Lô, Hương Quế, Hương Lộc, Hương Phúc, Hương An. Như vậy so với Địa bạ triều Nguyễn, hai làng Hương Toàn, Hương Ly được đổi thành Hương Quế và Hương Lô.

– Bản đồ tỉnh Quảng Nam được người Pháp vẽ vào đầu thế kỷ XX có thể hiện 2 địa danh Hương Quế (làng và núi) và Hương Lộc.

Trên cơ sở đó chúng tôi cho rằng địa danh Hương Quế có từ trước 1846 và sau 1814. Có lẽ đó là vào năm 1836 khi Minh Mạng cho cắt đất của Duy Xuyên và Lễ Dương để thành lập huyện Quế Sơn. Chữ Hương giữ gốc cũ của Ngũ Hương, chữ Quế lấy từ huyện mới Quế Sơn.

Dựa vào gia phả của tộc Nguyễn và tộc Phạm cho biết làng được thành lập vào khoảng giữa thế kỷ XV, do một người cháu đời của Phạm Nhữ Dực có tên là Phạm Nhữ Tăng (1421-1478). Sau này ông được tôn làm Chánh Tiền hiền của làng. Trong Gia phả tộc Phạm có viết: “…. Đức tiền hiền tộc Phạm (Phạm Nhữ Tăng) thấy mảnh đất Đồng Tràm sa bồi và chất đất xấu còn Hương Quế có khe sông bàu núi, nhiều ruộng phì nhiêu nên ngài định cư tại Hương Quế…”…”Ông Phạm Đức Đối không chịu theo cháu là tiền hiền tộc Phạm Hương Quế. Ngài ở lại Đồng Tràm và sanh hạ con cháu tộc Phạm Đồng Tràm…” (Lâm Hoài Nam, Một tài liệu về cuộc di dân Nam tiến của tiền nhân – Tài liệu lưu hành nội bộ).

Như vậy, Hương Quế được thành lập bởi một “Thượng tướng bình Chiêm” sau cuộc Nam chinh của Lê Thánh Tông năm 1471 với sự ra đời của Thừa tuyên Quảng Nam.

   Hương Quế là ngôi làng mang đậm dấu ấn cộng cư Chăm – Việt.

Làng còn nhiều di tích Chăm. Trên cánh đồng giữa làng, trong khuôn viên nhà thờ tộc Phạm hiện nay vẫn còn 3 di tích Chăm, đó là ba ngôi miếu cổ thờ thần Thiên Y A Na,  bò thần Nan Đin, một tấm bia ký viết chữ Chăm có kích thước khá lớn 1,6m x 1,8m. Bác sĩ Saller trong B,A.V.H (tập V,1923) còn cho biết bên cạnh tấm bia có một giếng Chăm rất thiêng: “Giếng nước của Hương Quế sát tấm bia, ngoài các đồ vật khác còn có con gà trống chín cựa nhọn thì thật là một cái gì đáng sợ. Dường như giếng có ma Hời chuyên gây điều dữ”. Gần đây ngôi giếng này đã được khai quật.

Tượng nữ thần Devi (Hương Quế)

Đặc biệt ở Hương Quế vào năm 1901, Louis Finot đã phát hiện một pho tượng quý, đó là tượng nữ thần Devi.  Tượng được chế tác bằng sa thạch, cao 38,5cm, rộng 21,6cm, dày 11,8cm và nặng 20kg có niên đại khoảng thế kỷ IX – X. Đây là tượng bán thân với lông mày dài và cong nối liền từ mắt phải qua mắt trái chứ không bị ngắt đoạn ở khoảng giữa, làm cho vầng trán của nữ thần trở nên sinh động. Mi mắt nữ thần khá dài, sống mũi thẳng, miệng đang cười, tai đeo trang sức. Theo tài liệu của các nhà nghiên cứu thì đây là chân dung hiếm thấy của một nữ thần Ấn Độ được “Champa hóa” với “mái tóc vén lên thành nếp gấp lớn cuộn bồng viền theo trán, phần đỉnh đầu với các lọn tóc thắt bím được bới cao và kết dính bằng các bím tóc đặt theo chiều ngang và chia đôi cân đối. Phía trước có đính một vầng trăng lưỡi liềm và hai bên tết tóc như hình bậc thang, phía sau tóc bím từng dãy dài ôm vào gáy. Cổ thon cao, ngực để trần căng sức sống nhưng vẫn giữ được vẻ thánh thiện” (theo hồ sơ Di sản của Cục Di sản – Bộ VH,TT&DL).

Nữ thần Devi có tên là Haradevi, là vợ của vua Indravarman II. Do bà có nhiều công đức, nên khi qua đời bà được vua Jaya Sinhavarman (893 – 904) cho tạc tượng để thờ cúng như các vị thần khác. Điều này được ghi lại trong văn bia thứ 2 ở Đồng Dương mà Louis Finot đã tìm thấy. Tượng nữ thần Devi ở Hương Quế được các nhà nghiên cứu đánh giá là tác phẩm điêu khắc đẹp nhất trong nghệ thuật tạc tượng các nữ thần của nghệ sĩ tạo hình Champa thế kỷ thứ X.

Sau khi phát hiện pho tượng đã gây sự chú ý đặc biệt cho giới nghiên cứu người Pháp nên sau đó, Parmentier đã đưa về lưu trong kho của Viện Viễn Đông Bác cổ ở Hà Nội, đến năm 1932 được trưng bày ở bảo tàng Louis Finot ở Hà Nội (Tiền thân của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam). Năm 1954, người Pháp đã cho chuyển vào Bảo tàng Blanchard de la Brosse ở Sài Gòn (tiền thân của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh). Bức tượng nữ thần Devi của Hương Quế hiện được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – thành phố Hồ Chí Minh.

Năm 2012, bức tượng nữ thần Devi của Hương Quế đã được công nhận là Bảo vật quốc gia, một trong 30 bảo vật quốc gia đầu tiên được công nhận của nước ta.

Những di tích Chăm ở Hương Quế có ý nghĩa rất lớn, minh chứng cho quá trình cộng cư rất hòa bình của hai dân tộc Việt – Chăm và cũng góp phần vào việc lý giải cho “tính cách” và “giọng nói” của người Quảng.

                                                                         L.T