Hoạt động truyền giáo của giáo sĩ Bồ Đào Nha ở Hội An (thế kỷ XVI – XVII)

Là một trong những quốc gia tiên phong của thời đại khám phá, thế kỷ XVI, XVII, Bồ Đào Nha đã khai mở thành công tuyến thương mại biển độc quyền qua mũi Hảo Vọng dựa trên hệ thống thương điếm phân bố dọc duyên hải Phi châu, Ấn Độ, Đông Nam Á đến Viễn Đông. Song song với hoạt động giao thương, công cuộc truyền giáo của các giáo đoàn dưới sự bảo trợ của Hoàng gia Bồ Đào Nha cũng gặt hái được nhiều thành quả khi ba giáo phận Goa (Ấn Độ), Malacca (Đông Nam Á) và Macao (Trung Quốc) lần lượt ra đời. Việt Nam – một quốc gia nằm trên tuyến thương mại nội Á – bắt đầu có quan hệ với thương nhân người Bồ từ đầu thế kỷ XVI. Các sự kiện lịch sử cũng ghi nhận ảnh hưởng của Bồ Đào Nha ở Việt Nam trên cả hai phương diện thương mại và truyền giáo. Trong công cuộc truyền giáo của các giáo đoàn Bồ Đào Nha ở Việt Nam, Faifo – Hội An là một trong những địa điểm đóng vai trò không thể thay thế và được xem là một trong những “cái nôi” khai sinh chữ Quốc ngữ.

Francisco de Pina (1585-1625)
  1. Quá trình xác lập ảnh hưởng của Bồ Đào Nha ở Faifo – Hội An

Sau cuộc phát kiến địa lý của Vasco da Gama (1497 – 1499), Hoàng gia Bồ Đào Nha nhanh chóng thiết lập ảnh hưởng của mình tại các tiểu quốc Hồi giáo ven bờ Tây Ấn. Trong quá trình tìm kiếm tuyến hải thương kết nối Ấn Độ – Trung Quốc, thương thuyền Bồ Đào Nha cũng cập bến Cù Lao Chàm, Cửa Hàn, Hội An trong các năm 1516, 1523, 1535 – bước đầu đánh dấu sự hiện diện của người Bồ trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, do sự chi phối của chính sách trọng thương, Bồ Đào Nha không có nhiều hoạt động thúc đẩy quan hệ với Hội An. Mãi đến đầu thế kỷ XVII, cùng với việc trở thành “thương nhân nước ngoài chủ yếu của thị trường Hội An” [8, tr.98], thì người Bồ Đào Nha mới hoạt động thường xuyên ở khu vực này. Thương nhân Bồ hiểu rõ yếu tố chi phối của điều kiện thời tiết, nên đến Hội An vào mùa mậu dịch (từ tháng 2 đến tháng 8), sau đó khởi hành đến Macao hoặc trở về các thương điếm của họ ở Malacca hay Goa. Theo đó, “thuyền của họ chủ yếu từ Macao đến đầu kỳ mậu dịch mang theo các hàng đồ sành, đồ sứ, bạc thoi, diêm sinh, lưu huỳnh, chì kẽm, vải nỉ màu xanh, đỏ… Trong số hàng hóa thu được lãi cao nhất là các hợp kim. Người Bồ mua tổ yến, trầm hương, vải lụa, tơ, gỗ quý, quế, đường…chở về Macao hay Malacca. Họ chịu một khoản thuế thương chính cao nhất trong các thương thuyền đến Hội An.”[8, tr.98]. Tuy nhiên, nếu tại các thương điếm ở Ấn Độ và Macao, Bồ Đào Nha thiết lập một cơ cấu chính quyền tương đối hoàn chỉnh với tổ chức khá thống nhất thì tại Hội An, họ không thiết lập đại lý thương mại, chỉ thuê văn phòng và nơi cư trú trong khoảng thời gian thu mua hàng hóa. Theo nhiều nguồn tài liệu thì “văn phòng” của người Bồ Đào Nha lớn hơn tất cả những ngôi nhà khác tại Hội An với mặt trước để kinh doanh, mặt sau là nơi chứa hàng hóa và sinh hoạt [5, tr.157]. Họ thuê tầng lớp “mại biện” người Hoa để gom hàng hóa, chờ đợi gió mùa để vận chuyển lên tàu chở đi phân phối. Lợi dụng sự ưu ái của chúa Nguyễn, người Bồ tìm mọi cách duy trì thể chế giao thương độc quyền như đã áp dụng tại Ấn Độ Dương nhưng không hiệu quả.

  1. Hoạt động truyền giáo của các giáo sĩ Bồ Đào Nha ở Hội An

Cùng với hoạt động giao thương, các linh mục thuộc “quyền bảo trợ” của Bồ Đào Nha cũng đặt chân đến Hội An vào đầu thế kỷ XVI. Theo nhiều nguồn tư liệu, năm 1523 là thời điểm đánh dấu mốc khởi đầu của công cuộc truyền bá Thiên Chúa giáo ở Hội An với sự kiện “năm 1523, nhà hàng hải Duarte de Coelho là người Bồ Đào Nha đầu tiên đặt chân đến vùng đất “Cochinchina” (Đàng Trong) khi cho tàu qua Cửa Hàn (Đà Nẵng) và ghé vào Cù Lao Chàm. Tại đây ông đã cho dựng một cây thánh giá có khắc chữ INRI (là những ký tự viết tắt cho câu viết tiếng Latinh: Iẽsus Nazarẽnus Rẽx Iũdaeõrum, nghĩa là:“Giêsu người Nazareth, Vua dân Do Thái”), tên của ông là Coelho và năm ông đến là 1523 [2, tr.640]. Sự kiện này đã được ghi nhận với việc “năm 1556, có một người Bồ khác tên Fernão Mendez Pinto đến Việt Nam, gặp cây thánh giá nói trên tại Cù Lao Chàm” [10, tr.113]. Tuy nhiên, sau sự kiện năm 1523, các linh mục Bồ Đào Nha hầu như không có bất kỳ cuộc tiếp xúc nào với cư dân Hội An (ngoại trừ một số hoạt động của các linh mục ở Đàng Ngoài). Bởi vì đầu thế kỷ XVI, người Bồ Đào Nha đang tập trung mở rộng quyền lực trên toàn châu Á với các trọng điểm ở Ấn Độ, Malacca, Nhật Bản và Trung Quốc. Vào thời điểm lịch sử ấy, Hội An không nằm trong chiến lược thương mại biển của người Bồ.

Trong bối cảnh lịch sử đầy phức tạp như trên, năm 1614, Nhật Bản chính thức thực thi chính sách “cấm đạo” trục xuất tất cả các giáo sĩ phương Tây. Một số giáo dân Nhật Bản trên đường trốn chạy khỏi lệnh trục xuất đã đến cư trú lâu dài ở Hội An – một thương cảng buôn bán truyền thống của người Nhật. Để giúp đỡ các giáo dân Nhật Bản và tìm kiếm địa bàn truyền giáo mới, “ngày 6-1-1615, ba tu sĩ dòng Tên là hai L.m Francesco Buzomi (Ý), Diego Carvalho (Bồ Đào Nha) và thầy Antonio Dias (Bồ Đào Nha), đáp tàu buôn Bồ Đào Nha từ Áo Môn đi Đàng Trong và tới Cửa Hàn ngày 18-1-1615. Sau đó mấy tháng, các ông đến ở Hội An” [3, tr.24]. Khi đến đây, các linh mục đã “làm thánh lễ với số dân Nhật Bản và 01 năm sau họ đã cải giáo được 300 người Việt xung quanh khu vực này” [8, tr.270]. Năm 1615 đi vào lịch sử truyền giáo của người Bồ Đào Nha như mốc thời gian chính thức đánh dấu sự thành lập cư sở Hội An – cư sở chính thức đầu tiên của Dòng Tên (the Jesuits) ở Việt Nam. Nhận thấy tiềm năng của Hội An, trong những năm tiếp theo, giáo phận Macao liên tiếp gửi đến Hội An thêm nhiều nhà truyền giáo thuộc Dòng Tên (the Jesuits), bao gồm: hai giáo sĩ Francisco Barreto và Francisco de Pina (1617); phái đoàn gồm giáo sĩ Pedro Marquez làm tuyên úy và Christofo Borri (1618); 4 giáo sĩ Giovani de Leira (người Ý), Romano Niti (Nhật Bản), Emmanuel Borges và Emmanuel Fernandez đến Hội An năm 1622.

Năm 1624, đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong công cuộc truyền bá Thiên Chúa giáo tại Hội An với sự xuất hiện một đoàn truyền giáo gồm 6 giáo sĩ do Gabriel Mattos cầm đầu (trong đó có Alexandre de Rhodes). Đến năm 1625, tổng số Jésuites hữu ở Đàng Trong là 15 thì ở Hội An có 6, năm 1625, các giáo dân được rửa tội là 325 người [4, tr. 65]. Năm 1628, giáo sĩ “Gaspar de Amaral cùng với 2 người Nhật gốc Bồ Đào Nha là Michael Machi và Matthias Machide” [10, tr.118] và năm 1636 linh mục Antonio Barbosa đến Hội An. Vai trò của giáo đoàn này được thể hiện thông qua linh mục Gaspa de Amaral và Antonio Barbosa  – những người có vị trí quan trọng trong tiến trình sáng tạo nên chữ Quốc ngữ ở Việt Nam. Hoạt động thường xuyên và tích cực của Dòng Tên ở Hội An đã đem đến cho công cuộc truyền giáo nơi đây nhiều thành tựu nổi bật. Cho đến trước khi Hội truyền giáo Thừa sai Paris (MEP) thay thế vai trò của các linh mục Bồ Đào Nha tại Hội An thì “Trong những năm từ 1615 – 1665, ở Hội An có 3 cộng đoàn theo đạo Thiên Chúa gồm cộng đoàn người Nhật, cộng đoàn người Hoa và cộng đoàn người Việt. Mỗi cộng đoàn có cơ sở thờ tự riêng.” [9].

 

Để lý giải nguyên nhân khiến Hội An trở thành một trong những trung tâm truyền giáo quan trọng ở khu vực Viễn Đông, chúng ta cần nhận thức đầy đủ về bối cảnh lịch sử của khung thời gian này. Từ sau khi nắm được quyền bảo trợ hoạt động truyền giáo, người Bồ Đào Nha cũng được Giáo hoàng chính thức thừa nhận quyền sở hữu của họ trên tất cả các vùng đất đai mà họ khai phá được từ sau cuộc phát kiến địa lý của Vasco da Gama. Sự kết hợp giữa thế quyền và thần quyền, giữa “hạt tiêu và linh hồn” là đặc trưng chung của đế quốc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha vào thời điểm lịch sử này. Với mục đích xây dựng một đế chế mậu dịch hàng hải, người Bồ Đào Nha đã tiến hành xâm chiếm những vị trí chiến lược nằm ven biển, kết nối giao thương và nắm độc quyền việc buôn bán hương liệu và truyền giáo từ Ấn Độ – Đông Nam Á – Trung Quốc – Nhật Bản. Vì thế, Hội An – với vị trí địa chính trị quan trọng, là một trong những thương cảng mà thương nhân Trung Quốc, Nhật Bản thường xuyên lui tới và có quan hệ thương mại nhộn nhịp với Ấn Độ và Đông Nam Á rất thích hợp để Bồ Đào Nha đến đây thu mua hàng hóa. Bên cạnh đó, Hội An nằm ở cửa ngõ của Quảng Nam – vùng đất từng nổi tiếng trong lịch sử với các sản phẩm bản địa như tơ lụa, vàng và đặc biệt là trầm hương – một mặt hàng có giá trị cao trên thị trường thế giới, nên càng trở thành điểm thu hút thương nhân người Bồ. Chính sách đối ngoại rộng mở, mềm mỏng của chúa Nguyễn đã góp phần quan trọng kích thích sự quan tâm của chính quyền Bồ Đào Nha khi các thương điếm lân cận như Macao hoặc Malacca gặp nhiều cạnh tranh. Chúa Nguyễn với sự nắm bắt được mọi khả năng, ưu thế của mình, cộng với nhu cầu xu thế của thời đại đã tạo nên sự giao kết độc đáo, hoàn chỉnh giữa hai yếu tố “nội sinh” và “ngoại sinh”. Điều này góp phần tạo nên một cảng thị Hội An có hấp lực lớn như trong Hải Ngoại Ký sự, Thích Đại Sán đã từng miêu tả: “Vì Hội An là một mã đầu lớn, nơi tập hợp của khách hàng các nước, thẳng bờ sông, một con đường dài ba bốn dặm, gọi là đại đường cái, hai bên đường hàng phố ở liền nhau khít rịt, chủ phố thảy đều người Phúc Kiến, vẫn ăn mặc theo lối tiền triều (nhà Minh). Phần đông phụ nữ coi việc mua bán. Những khách trú ở đây hay cưới vợ bản xứ cho tiện việc thương mãi. Cuối đường là cầu Nhật Bản, tức Cẩm Phố, cách bờ bên kia tức Trà Nhiêu, nơi đình bạc của các tàu ngoại quốc. Nhân dân đông đúc, cá tôm, rau quả tập họp buôn bán suốt ngày. Thuốc Bắc hay các món khác tìm mua ở Thuận Hóa không có thì người ta vào mua ở đây” [7, tr.154]. Nên mặc dù không phải là thương điếm chính thức của Bồ Đào Nha, Hội An vẫn đóng vai trò nhất định trong hoạt động thương mại và truyền giáo của đế quốc này. Vì thế, Hội An đã trở thành không chỉ là địa điểm giao thương quan trọng nhất của Bồ Đào Nha mà đồng thời là một trong những trung tâm truyền giáo gặt hái được nhiều thành công nhất.

Đến giữa thế kỷ XVII, do sự thay đổi của tình hình chính trị thế giới, các giáo sĩ thừa sai người Pháp đã được Tòa thánh La Mã cho phép thay thế vai trò truyền giáo của các linh mục Dòng Tên (the Jesuits) ở Hội An. Cùng với sự thất bại của Bồ Đào Nha về thương mại và quân sự trước các đối thủ người châu Âu khác, hoạt động truyền giáo của các giáo đoàn Bồ Đào Nha ở Hội An cũng chấm dứt.

N.T.V.L

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Đỗ Bang (1996), Phố cảng vùng Thuận Quảng (Hội An – Thanh Hà – Nước Mặn) thế kỷ XVII-XVIII, NXB Thuận Hóa, Huế.
  2. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh Quảng Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ (2016), Kỷ yếu HTKH “Dinh Trấn Thanh Chiêm và chữ Quốc ngữ”, Quảng Nam.
  3. Đỗ Quang Chính (2008), Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620 – 1659, NXB Tôn giáo, tp Hồ Chí Minh,
  4. Hoàng Thị Anh Đào (2017), Hoạt động thương mại – truyền giáo của Bồ Đào Nha và Pháp ở Việt Nam (thế kỷ XVI – XIX), Luận án tiến sĩ Lịch sử, Huế
  5. Li, Qingxin (2006), Maritime Silk Road, Translated by William W.Wang, China: Intercontinental Press.
  6. Li, Tana (1998), Nguyễn Cochinchina: Southern Vietnam in the Seventeenth and Eighteenth Centuries, SEAP Publications
  7. Thích Đại Sán (1963), Hải ngoại ký sự, Viện Đại học Huế, Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt Nam.
  8. Nguyễn Chí Trung (2010), Cư dân FaiFo – Hội An trong lịch sử, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng
  9. Võ Hồng Việt (2014), 400 năm Thiên chúa giáo du nhập vào Hội An, Đặc san Nghiên cứu lịch sử xứ Quảng, số 5.

https://hoianheritage.net/vi/trao-doi-chuyen-nganh/chuyen-de-nghien-cuu-trao-doi/400-nam-Thien-Chu-a-gia-o-Du-nha-p-va-o-Ho-i-An-380.html

  1. Hoàng Xuân Việt biên soạn, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính  (2012), Tìm hiểu lịch sử chữ Quốc Ngữ, NXB Văn hóa thông tin, tp.HCM.