Đồ đồng trong các di tích văn hóa Sa Huỳnh ở Quảng Nam

Là một trong những địa phương được xem là trung tâm của nền văn hóa Sa Huỳnh, cho đến nay trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đã phát hiện gần 50 địa điểm có dấu tích của nền văn hóa này với không gian phân bố từ miền núi, trung du đến vùng đồng bằng ven biển. Những đồ

Đồ đồng tùy táng trong mộ số 37 Lai Nghi (Nguồn – Lâm Thị Mỹ Dung (2017)- trang 189)

gốm, đồ sắt, đồ trang sức phát hiện trong các di tích văn hóa Sa Huỳnh cùng với táng thức mộ chum đặc trưng đã góp phần định danh cho nền văn hóa này. Bên cạnh các đặc trưng về đồ gốm, đồ sắt hay đồ trang sức; đồ đồng tuy chiếm số lượng ít nhưng đây là loại di vật thể hiện rõ nét các mối quan hệ văn hóa giữa văn hóa Sa Huỳnh với các nền văn hóa khác cũng như góp phần đối chiếu, thiết lập khung niên đại tương đối cho các di tích văn hóa Sa Huỳnh.

Theo thống kê sơ bộ, có 16 di tích văn hóa Sa Huỳnh tại Quảng Nam đã phát hiện được các đồ đồng, gồm các di tích Gò Mả Vôi, Gò Dừa, Thôn Tư (Duy Xuyên), Phú Hòa, Bàu Trám, Tam Mỹ (Núi Thành), Lai Nghi (Điện Bàn), An Bang, Hậu Xá II, Thanh Chiếm (Hội An), Gò Mùn (Đại Lộc), Bình Yên (Nông Sơn), Tiên Hà, Tiên Lãnh (Tiên Phước), Phước Gia (Hiệp Đức), Pà Xua (Nam Giang). Trong số các di tích này, gò Mả Vôi, Lai Nghi là những di tích phát hiện số lượng đồ đồng nhiều. Gò Mả Vôi có 29 hiện vật tùy táng bằng đồng và 1 hiện vật đồng kết hợp sắt. Tiếp đến là các địa điểm Bình Yên, Gò Dừa, Phú Hòa, Tiên Lãnh; các địa điểm khác số lượng di vật đồng phát hiện ít, một số địa điểm chỉ phát hiện các mảnh vỡ (Phước Gia, Gò Mùn). Sự phân bố các di vật đồng trong các di tích từ vùng núi đến đồng bằng, tập trung trong một số khu vực nhất định – nơi được xem có mật độ dân cư đông đúc và nằm ở vị trí quan trọng trên tuyến thông thương giữa miền ngược – miền xuôi như khu di tích Phước Gia – Tiên Lãnh, gò Mả Vôi – Thôn Tư, An Bang – Thanh Chiếm – Hậu Xá II, Phú Hòa – Tam Mỹ,…

Các di vật đồng phát hiện được khá đa dạng về loại hình, từ các loại đồ đựng, công cụ sản xuất, sinh hoạt, vũ khí, đồ trang sức, nhạc khí, tiền,… Các loại đồ đựng, rìu, giáo là các di vật phổ biến hơn cả. Đồ đựng phát hiện trong các di tích Lai Nghi gồm bát, đĩa, ấm, bình; di tích Gò Dừa có bát, đĩa, quai đồ đựng;di tích Gò Mùn có mảnh đồ đựng, Tiên Lãnh có âu đồng, Tiên Hà có bát đồng. Các di tích tìm thấy công cụ sản xuất, vũ khí bằng đồng như Phú Hòa có rìu, dao găm, giáo, đục vũm; Bình Yên có rìu, giáo; gò Mả Vôi  có rìu, giáo, lao; Tam Mỹ có giáo; Bàu Trám, Tiên Lãnh có rìu, mũi tên; địa điểm Thôn Tư có rìu, dao, mũi nhọn.

Gương đồng phát hiện tại di tích Bình Yên

Âu đồng có miệng thẳng đứng, lòng rộng, đáy lồi ở mặt trong và lõm ở mặt ngoài. Rìu có họng tra cán với nhiều loại lưỡi như lưỡi xòe, lưỡi xéo, cong lệch, hình thang. Một số rìu lưỡi xòe cân có trang trí hoa văn xương cá dạng chữ X hoặc Y ở phần họng, hay các đường gân nổi trên thân rìu. Giáo có loại giáo hình búp đa hay giáo hình lá mía. Các loại đồ trang sức, nhạc khí hay tiền đồng phát hiện được ít. Đồ trang sức mới chỉ phát hiện khuyên tai (Paxua), nhẫn? (Gò Dừa) hay một số lục lạc (Lai Nghi, Thanh Chiếm). Tiền đồng là loại tiền Ngũ Thù phát hiện tại di tích Hậu Xá II. Một số di tích đã phát hiện gương đồng như gương “nhật quang kính” phát hiện tại di tích Bình Yên hay gương “tứ nhũ, tứ linh kỳ thú” phát hiện tại Gò Dừa. Tại di tích An Bang, Lai Nghi cũng phát hiện gương đồng.

Ngoài di tích cư trú Thôn Tư, các di vật đồng đều được phát hiện trong khu mộ táng, bao gồm cả mộ chum/ vò và mộ đất. Trong các mộ chum, đồ đồng cùng các đồ tùy táng khác như sắt, đồ trang sức thường được đặt trong chum, riêng tại di tích Phú Hòa, bộ đồ đồng chôn theo với 6 di vật được đặt bên ngoài mộ vò. Với những di tích vừa có táng thức mộ chum, vừa có mộ huyệt đất thì di vật đồng được phát hiện ở cả hai loại hình táng thức này, riêng di tích Tiên Lãnh chỉ

Rìu, giáo, lao đồng

phát hiện trong mộ huyệt đất. Sự sắp đặt các di vật đồng trong các khu mộ táng phần nào phản ánh những táng tục liên quan. Tại di tích Phú Hòa, bộ di vật đồng ngoài việc đặt bên ngoài vò mộ dường như được bó thành bó trước khi chôn, và đây gần như là “biệt lệ” cung cấp kiểu thức mai táng khác của cư dân văn hóa mộ chum ở Nam Việt Nam(1). Hay như di tích Tiên Lãnh, trong mộ huyệt đất của hố khai quật số 2 có một cặp âu đồng chôn lồng nhau và đặt úp ngay giữa tâm một thanh kiếm sắt.

Các di vật đồng phát hiện trong các di tích văn hóa Sa Huỳnh ở Quảng Nam đa phần có nguồn gốc từ văn hóa Đông Sơn và Trung Quốc (Tây Hán – Đông Hán), một số di vật được chế tác tại chỗ. Bộ công cụ sản xuất, vũ khí như rìu, giáo, lao, dao mang đậm đặc trưng của văn hóa Đông Sơn. Những chiếc dao găm đốc chữ T, giáo hình lá mía cỡ lớn, đục vũm ở di tích Phú Hòa, các loại hình rìu ở di tích Bình Yên, gò Mả Vôi, Tiên Lãnh,… không khác gì những hiện vật đồng văn hóa Đông Sơn. Xem xét loại hình và trang trí bộ đồ đồng gò Mả Vôi các nhà nghiên cứu cho rằng chúng giống với đồ đồng văn hóa Đông Sơn loại hình sông Cả và có khả năng đồ đồng gò Mả Vôi xuất phát từ nơi này(2). Trong khi đó, các loại đồ đựng phần lớn có nguồn gốc từ Trung Quốc. Bộ đồ đồng sinh hoạt nghi lễ như bát, đĩa, ấm đỉnh, chậu phát hiện ở Lai Nghi niên đại hậu kỳ Tây Hán và sơ kỳ Đông Hán, cặp âu đồng ở di tích Tiên Lãnh hay chiếc gương đồng thời Tây Hán ở di tích Bình Yên, Gò Dừa, tiền đồng Ngũ Thù,… đều phản ánh đậm nét mối quan hệ văn hóa của cư dân văn hóa Sa Huỳnh với văn hóa Hán. Trong khi các đồ đồng có nguồn gốc từ văn hóa Đông Sơn chủ yếu phát hiện trong các di tích thuộc giai đoạn sớm và phát triển của văn hóa Sa Huỳnh, thì đồ đồng thời hậu kỳ Tây Hán và sơ kỳ Đông Hán được tiếp nhận ở giai đoạn hậu kỳ của văn hóa này, trong các địa điểm có niên đại muộn, khi mà những tiếp xúc với bên ngoài trở nên mạnh mẽ.

Hiện vật đồng Thôn Tư (Nguồn- Lâm Thị Mỹ Dung (2017)- trang 70)

Việc chế tác đồ đồng tại chỗ còn hạn chế. Dấu tích của việc chế tác đồng mới được tìm thấy ở Thôn Tư, gò Mùn, Bàu Trám. Tại di tích Thôn Tư đã phát hiện những di vật liên quan đến hoạt động đúc đồng như bọt đồng, xỉ đồng, giọt nước đồng hay mảnh của nồi nhỏ và muôi nấu đồng bằng đất nung còn bám lớp đồng cùng với những tảng đất cháy có dính xỉ đồng. Các di vật đồng ở đây loại hình đơn giản, kích thước nhỏ, phần lớn vỡ nát, khác với loại hình các di vật đồng trong khu mộ táng. Điều này cho thấy cư dân Sa Huỳnh ở đây đã chế tác đồng nhưng mức độ và quy mô nhỏ, kỹ thuật không cao(3). Ngay như bộ đồ đồng ở Phú Hòa vẫn có những khác biệt nhỏ so với đồ đồng Đông Sơn gợi lên một một kỹ nghệ đúc đồng của cư dân cổ Phú Hòa?(4). Qua đây có thể thấy nghề luyện kim đồng ở đây đã hình thành và phát triển do tiếp xúc trao đổi với văn hóa Đông Sơn

Số lượng, loại hình và nguồn gốc một số di vật đồng được phát hiện trong các khu mộ táng Sa Huỳnh cũng phần nào phản ánh mức độ phân tầng trong xã hội lúc bấy giờ. Những khu di tích và mộ táng có chôn theo đồ đồng được xem là những di tích hay mộ táng giàu có hoặc chủ nhân là những người có địa vị trong xã hội. Những hiện vật như đỉnh, bát, đĩa, ấm đồng,.. là những hiện vật thể hiện địa vị, thân thế của chủ nhân. Bên cạnh đó, từ những chỉ dẫn về các đồ tùy táng bằng đồng có thể phần nào tìm hiểu về thân phận, nghề nghiệp trong xã hội, chẳng hạn như mộ táng số 37 ở Lai Nghi có chôn theo bộ nghiên ấn, trên một mặt có vết khắc kiểu ký tự tượng hình gợi liên tưởng đến vị thủ lĩnh địa phương hay đại diện cho chính quyền nhà Hán ở khu vực Tượng Lâm bấy giờ (5).

Như vậy, dù không chiếm số lượng lớn và không phải di tích nào thuộc văn hóa Sa Huỳnh cũng phát hiện được đồ đồng nhưng đây là các di vật đặc biệt, phần nào phản ánh niên đại, đặc điểm, quan hệ văn hóa của di tích. Với số lượng các di tích văn hóa Sa Huỳnh cùng với đồ đồng tùy táng ngày càng được phát hiện nhiều hơn, đặc biệt ở vùng núi hy vọng sẽ mang đến nhiều thông tin hữu ích trong việc nghiên cứu về loại hình di vật này.

                                                                       N.T.N

Chú thích:

(1), (4) Trần Quốc Vượng (chủ biên) (1985), Những di tích thời tiền sử và sơ sử ở Quảng Nam – Đà Nẵng, Sở Văn hóa Thông tin Quảng Nam – Đà Nẵng, trang 64-65.

(2), (3), (5)Xem thêm: Lâm Thị Mỹ Dung (2017), Sa Huỳnh- Lâm Ấp- Champa – Thế kỷ 5 trước Công nguyên đến thế kỷ V sau Công nguyên (Một số vấn đề khảo cổ học), Nxb. Thế giới.