Địa vực cư trú của các tộc người ở miền núi Quảng Nam

Theo một số công trình nghiên cứu về dân tộc học ở Quảng Nam gần đây, chưa có một tư liệu nào đề cập một cách chính xác về thời điểm ra đời của các dân tộc thiểu số ở miền núi Quảng Nam. Tuy nhiên, về nguồn gốc nhân chủng, có thể khẳng định rằng, các dân tộc ở đây thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme, là một trong các nhóm ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Á. Đồng thời, ngôn ngữ của các cư dân ở đây đều thuộc về Môn – Khơme ngành Bhanaric hay Môn – Khơme ngành Cơtuic.

Các già làng vùng cao nói lý – hát lý. Ảnh: Alăng Ngước

Cư trú trên địa bàn tỉnh Quảng Nam có nhiều dân tộc. Trong đó, miền núi phía Tây, vùng Nam Trường Sơn là nơi cư trú của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme. Dân tộc Cơ Tu có 37.310 người, chiếm 2,71%; dân tộc Xơ Đăng có 30.231 người, chiếm 2,2%, dân tộc Giẻ – Triêng có 4.546 người, chiếm 0,33%, dân tộc Cor có 4.607 người, chiếm 0,33%. Các tộc người này chính là lớp cư dân bản địa tại miền núi Quảng Nam, trải qua bề dày lịch sử họ đã có nhiều đóng góp hết sức to lớn trong xây dựng, bảo vệ, phát triển vùng đất Nam Trường Sơn.

Trên bản đồ phân bố các tiểu nhóm ngôn ngữ trong ngữ hệ Môn – Khơme, Quảng Nam là vùng đệm giữa nhánh Bhanaric và Cơtuic. Theo sự phân chia này, người Cơ Tu thuộc vào nhánh Catuic ở phía Bắc, có sự gắn kết chặt chẽ với người Pacô, Tàôi, Bru – Vân Kiều. Cho nên có thể nói rằng, Cơ tu chính là bản lề nối kết các cư dân thuộc ngôn ngữ Bhanaric với các dân tộc phía Bắc miền Trung (thuộc nhánh Cơtuic).

Nhánh Cơtuic bao gồm các tộc người Bru -Vân Kiều, Tà ôi, Cơ Tu; trong mối quan hệ ngôn ngữ là những cư dân vốn cư trú ở miền Bắc và Tây Bắc ngành Ba Na ở Việt Nam và Lào. Nhánh Bhanaric gồm các tộc người Xơ Đăng, Co, Giẻ – Triêng… cư trú trên một vùng rộng lớn từ núi Hải Vân trở vào qua đến biên kia biên giới Việt – Lào, tới bờ sông Mê Kông và phía Nam đến tận vùng Quảng Ngãi và Kon Tum ngày nay. Dân tộc Cơ Tu thuộc ngôn ngữ Môn – Khơme ngành Cơtuic, là tộc người có địa bàn cư trú bao trọn một vùng rộng lớn núi non trùng điệp, trên những cao nguyên của hai quốc gia Việt Nam và Lào. Tại Việt Nam, họ sinh sống tập trung ở khu vực phía Tây Nam tỉnh Thừa Thiên – Huế (A Lưới, Nam Đông) và phía Tây Bắc tỉnh Quảng Nam, giới hạn gồm các huyện Tây Giang, Đông Giang và Nam Giang. Bên cạnh tộc người Cơ Tu, khối các cư dân Xơ Đăng, Cor, Giẻ – Triêng (trong đó nhóm Ve, Tà Riềng, Bh’Noong) ngày xưa có thể họ đã di trú đến tận miền trung du thuộc các huyện Quế Sơn, Tiên Phước và có mặt ở 3 huyện Phước Sơn, Bắc Trà My, Nam Trà My từ rất lâu đời. Các nhóm Mơ Nâm, Ca Dong (thuộc dân tộc Xơ Đăng) nằm án ngữ và nối kết khu cư trú của các tộc người ở Bắc Tây Nguyên với Nam Quảng Nam, trong khi đó dân tộc Giẻ – Triêng nối kết vùng Sê Kông, Salavan, Attapeu với miền Tây Quảng Nam qua địa bàn cư trú khá liên tục của họ ở phía Tây huyện Nam Giang. Từ đó, họ đã dàn trải trên vùng Tây Nam Quảng Nam, cận cư với khối Cơ Tu, một tộc người vốn gần như chiếm lĩnh trọn vẹn vùng Tây Bắc Quảng Nam và lan qua đến tận Tây Nam Thừa Thiên – Huế.

Dân tộc Xơ Đăng sinh sống tập trung ở tỉnh Kon Tum và ở hai huyện Nam Trà My, Bắc Trà My và một số ở huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam; huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi. Dân tộc Xơ Đăng là tộc người hình thành nhiều nhóm địa phương khác nhau: Xơ Teng, Tơ Đrá, Mơ Nâm, Ca Dong và Hà Lăng; chủ yếu cư trú ở vùng núi cao quanh quần sơn Ngọk Linh, tập trung ở các xã Trà Nam, Trà Linh và Trà Cang; trong đó cư tụ đông nhất là Trà Nam, địa bàn cực Nam huyện Nam Trà My, nơi giáp ranh với Kon Tum. Tộc người Xơ Đăng trong lịch sử thường xảy ra những cuộc xung đột nội bộ, lại thêm sự chèn lấn của người Lào; những cuộc chiến tranh với các dân tộc láng giềng, nạn sụt đất, bệnh dịch, hạn hán, mất mùa. Tộc danh Xơ Đăng chỉ mới xuất hiện từ thời thuộc Pháp, có thể lúc ban đầu do đọc trại của từ Hơ lăng, Xơ Lăng mà tộc người Ba Na gọi hai nhóm địa phương đông đảo nhất là Xơ teng, Hà lăng ở liền kề với họ và về sau, tên gọi này được sử dụng ngày càng phổ biến hơn một trăm năm qua, trở thành tộc danh chính thức của một dân tộc, mà cốt lõi của nó là các nhóm địa phương có mối quan hệ chặt chẽ lâu đời cư trú ở một vùng riêng biệt. Thành phần ban đầu của nhóm Xơ Đăng chỉ có người Xơ Teng, Tơ Đrá, Mơ Nâm. Hai nhóm Hà Lăng, Ca Dong mới nhập thêm vào và tạo nên tộc người Xơ Đăng như ngày nay. Ở đây, nhóm Hà lăng lại tách ra và chuyển cư xuống vùng Đắk Tô, Sa Thầy giáp Lào, sau vì sự bành trướng của người Lào, buộc họ phải di cư đến Kon Tum.

Trong thành phần dân tộc Xơ Đăng, đáng lưu ý hơn cả là nhóm Ca Dong. Người Ca Dong cho rằng, xưa họ ở cạnh người Cor, người Cor lập nghiệp ở bên dưới sông Tranh, bên đường nước (Pa dác), còn họ lập nghiệp bên đường bộ (Pa cung); họ gọi sông Tranh là sông Lớn (Kmin) hay sông Oa (Tloa), nơi có nhiều cây môn nước mọc (hiện nay, vùng người Cor cư trú giáp với nhóm Mơ Nâm và Bh’Noong). Tuy nhiên, địa bàn cư trú ban đầu của người Ca Dong chạy dài từ huyện Bắc Trà My, Nam Trà My (Quảng Nam) qua Bắc Kon Plong (Kon Tum) đến Sơn Hà (Quảng Ngãi). Do sức ép của tộc người H’rê, một bộ phận người Ca dong đã tách ra, cư trú ở Sa Thầy, Đăk Glây (Kon Tum). Chính địa bàn cư trú mới này, đã tạo điều kiện cho dân tộc Ca Dong tiếp xúc với các tộc người cận cư như Giẻ – Triêng, Brâu, Lào; cho nên, trong sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của người Ca Dong đã có những nét dị biệt với các nhóm đồng tộc còn lại thuộc dân tộc Xơ Đăng.

Bên cạnh nhóm Ca Dong bị phân tán mạnh, nhóm Mơ Nâm đã chuyển từ huyện Kon Plong (Kon Tum) sang cư trú ở hai xã Trà Cang, Trà Linh (huyện Nam Trà My, Quảng Nam) từ rất sớm, và để cả hai cùng nằm án ngữ, nối kết khu cư trú các tộc người ở vùng Bắc Tây Nguyên với Quảng Nam. Trong khi đó, nhóm Xơ Teng chỉ mới chuyển từ huyện Đăk Tô sang cư trú ở xã Trà Nam (Bắc Trà My) từ thời thuộc Pháp.

Xơ Đăng là một tộc người có lịch sử hình thành khá muộn và không thuần nhất về nhân chủng, bởi lẽ họ được hình thành từ những nhóm địa phương khác nhau cùng đến tụ cư trên một địa bàn. Người Ca Dong tại Quảng Nam có khoảng 24.700 người sinh sống tập trung ở hai huyện Bắc Trà My, Nam Trà My (53,54%) và Phước Gia, Hiệp Đức. Do lịch sử tộc người và cư trú phức tạp, bộ phận Ca Dong có nhiều biểu hiện đặc thù so với người Xơ Đăng. Nhóm người này không tự nhận mình là người Xơ Đăng; trong khi đó, người Ca Dong tại Kon Tum lại không có tình trạng này, họ chấp nhận mình chính là nhóm địa phương của dân tộc này. Điều đó có thể được giải thích bởi vùng cư trú biệt lập, có địa hình hiểm trở của người Ca Dong tại Quảng Nam, nhất là vùng Bắc Trà My. Nhóm Mơ Nâm cư trú tại xã Trà Cang, Trà Linh thuộc huyện Nam Trà My, có dân số khoảng 5.000 người. Người Mơ nâm thạo nghề lúa nước/ ruộng bậc thang giữa một cộng đồng vốn quen thuộc với kinh tế nương rẫy. Nhóm Xơ Teng có dân số khoảng 2.500 người, cư trú phổ biến tại xã Trà Nam, huyện Nam Trà My. Cả hai nhóm Mơ Nâm và Xơ Teng có ý thức một cách mạnh mẽ thành phần tộc người của mình, tự nhận mình là một nhóm địa phương của dân tộc Xơ Đăng. Ngoài ra, dân tộc Xơ Đăng còn có hai nhóm địa phương Hàlăng và Tơđrá, tuy nhiên, họ không cư trú trên địa bàn Quảng Nam. Nhóm Hàlăng có nguồn gốc từ người Xơ Teng, về sau họ tách ra khỏi nhóm Xơ Teng và chuyển cư xuống huyện Đắc Tô, Sa Thầy, bị người Lào xua đuổi, họ lại di dời địa bàn của mình đến vùng ven Kon Tum. Mặc dù nguồn gốc của người Xơ Đăng từ Gia Lai, Kon Tum thiên di quan Trà My, nhưng đồng bào vẫn bảo lưu mọi tính cách truyền thống của dân tộc mình và có ý thức về khối cộng đồng người một cách rõ ràng. Họ vẫn giữ mối quan hệ mật thiết với những người đồng tộc bên kia. Đó là truyền thống tốt đẹp của đồng bào còn lưu giữ đến ngày nay.

Dân tộc Giẻ – Triêng còn có nhiều tên gọi khác như: Die, Yeh, Dram, Langya, Brila và Jeh Derale, họ cư trú ở tỉnh Sê Kông, Attapeu (Lào). Trước sự chèn lấn của các thế lực phong kiến Lào từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, cộng đồng dân tộc Giẻ – Triêng đã bị phân tán thành nhiều nhóm địa phương với những tên tự gọi khác nhau, chủ yếu gồm hai bộ phận: Tà Riềng (Triêng, T’riêng, Tà Liềng…) ở vùng thấp và bộ phận Ve (Giẻ, Lave) ở vùng cao, phát xuất từ sông Giẻ bên Lào. Tuy nhiên thuật ngữ Ve là do người Cơ Tu đặt với nghĩa xấu là hung hãn, còn riêng bản thân họ tự gọi là Giẻ. Khi chuyển cư sang Việt Nam, hai bộ phận Ve và Tà riềng sống chủ yếu ở huyện Đăk Glây (Kon Tum) và Phước Sơn (Quảng Nam). Trong ký ức của các già làng, tổ tiên họ từng chạy nạn từ vùng Lan Lách, Lan Tôn thuộc xã Đăk Bloong, huyện Đăk Glây qua Nam Trà My, Phước Sơn (Quảng Nam) và từ đó ổn định cư trú nơi đây. Ở huyện Nam Giang, nhóm Ve cư trú ở hai xã Đăk Pree và Đăk Pring, cận cư với nhóm Tà riềng ở xã La Dêê. Như vậy, địa bàn cư trú của người Giẻ là một vệt liên tục trên địa hình mà ranh giới phía Bắc địa vực cư trú của họ tiếp cận với phía Nam vùng người Cơ Tu cư trú. Không giống như người Cơ Tu theo chế độ phụ hệ, nhóm Ve và Tà riềng (thuộc dân tộc Giẻ – Triêng) hiện nay còn theo chế độ lưỡng hệ. Bên kia biên giới Lào, cửa khẩu quốc tế Đăk Ốc (Nam Giang) – Đăk Tà Oọc (Đăk Chưng), người Ve sống dàn trải đến sườn đông của cao nguyên Boloven rộng lớn, cả ở vùng thung lũng Boko, Sekamame và Dakmain. Vùng cư trú phía Đông của họ đến tận sông Đak Polo, ngay phía Đông đường 14. Trên một vùng cư trú như vậy, người Ve ở Quảng Nam sống cận cư với các tộc người Tà riềng phía Tây Bắc, phía Bắc là người Cơ Tu, người Co và Duan/Kinh ở phía Đông, còn ranh giới phía Nam là người Xơ Đăng. Dân tộc Giẻ – Triêng là cư dân gắn bó rất lâu đời ở vùng quanh dãy núi Ngọk Linh. Nhưng trước đây, họ sinh sống tập trung phía bên kia biên giới Việt – Lào. Các gia đình nuôi gia súc để dùng vào việc hiến sinh tế lễ, có một số người đãi vàng ở sông. Người Giẻ – Triêng có nghề truyền thống đan lát, nghề dệt vải phát triển ở nhiều nơi. Riêng trong tộc người Giẻ – Triêng đáng chú ý là nhóm Bh’Noong, chiếm một lượng dân số lớn. Tên tự gọi được phiên âm theo nhiều cách: Bơnoong, Mơnoong, Pơnoong, Banoong. Tuy nhiên, có thể thuật ngữ Bh’noong bắt nguồn từ tiếng Khơmer: Pnong, Pnông, có nghĩa là núi, chỗ vùng đất cao, sau gọi chệch đi là Bờnoong, Banoong, Mnoong; Cũng như các dân tộc cư trú trên dãy Trường Sơn, dân tộc Bh’noong là một dân tộc có nền văn hóa với bản lĩnh, bản sắc riêng biệt, thể hiện tính cách độc đáo của tộc người sinh sống ở vùng rừng núi hùng vĩ này. Bh’noong là một nhóm địa phương của dân tộc Giẻ -Triêng thuộc ngữ hệ Môn – Khơ me. Ở Quảng Nam, họ sinh sống trên địa bàn từ vùng cao miền núi huyện Phước Sơn đến xã Trà Leng, huyện Nam Trà My; xã Phước Trà, Sông Trà huyện Hiệp Đức, với dân số gần 13.0000 người. Trong khi đó ở Kon Tum, những người cùng nhóm với người Bh’noong lại tự nhận mình là dân tộc Giẻ.

Dân tộc Cor (Kol, Kor, Cùa, Trầu) còn có một số tên gọi khác theo địa vực cư trú. Ở Quảng Nam, địa bàn người Cor có một đặc điểm là trong lịch sử, kể cả hiện tại họ cư trú giáp với người Kinh/Việt về phía Đông, phía Tây cận cư với người Ca Dong ở huyện Nam Trà My, người Bh’Noong (nhóm của Giẻ – Triêng) ở huyện Phước Sơn và ở phía nam cận cư với người H’rê tỉnh Quảng Ngãi. Điều này, lý giải tại sao dân tộc Cor có sự phân hóa mạnh về yếu tố tộc người cũng như yếu tố văn hóa. Hiện nay, tại Quảng Nam, dân tộc Cor có dân số hơn 4.000 người, cư trú ở phía Đông Nam vùng xã Trà Nú, Trà Kót, Trà Giang, Trà Giáp, thị trấn Trà My thuộc huyện Bắc Trà My và một số ít ở xã Tiên Lập, huyện Tiên Phước, thậm chí lan tỏa xuống xã Tam Trà, huyện Núi Thành và xã Tam Lãnh, huyện Phú Ninh. Ngoài ra trên địa bàn các tỉnh lân cận có người Cor ở huyện Trà Bồng, Quảng Ngãi. Người Cor là một dân tộc tiến bộ, phát triển do điều kiện sinh sống gần gủi với đồng bằng, đặc biệt có lợi thế trong nghề trồng trầu, quế. Kinh tế nương rẫy là nguồn sống chủ yếu. Trầu và quế của người Cor nổi tiếng lâu đời và lưu dấu sâu nặng trong đời sống cộng cồng, trở thành thang giá trị trao đổi hàng hóa, trong đó có trao đổi cồng chiêng, và đó cũng là lý do tại sao người Cor còn được người Kinh/Việt gọi là “Mọi Trầu”, “Người Trầu”. Một số người Cor ở Bồng Miêu, xã Tam Lãnh biết đãi vàng. Người Cor sống ở những làng gọi là Plơi dựng ven lưng chừng núi, ven suối, sông hay thung lũng. Plơi là một nóc nhà sàn có khi dài tới hàng trăm mét, nhà được chia thành hai phần, một nửa chạy suốt hai cầu thang đầu hồi gọi là Gưl, tức là nhà làng, làm nơi sinh hoạt chung, làm nơi ở cho già làng và thanh niên chưa vợ, phần còn lại gọi là Tum được chia thành từng buồng, mỗi buồng có một bếp lửa, làm nơi ở cho các đôi vợ chồng và con cái, có cửa thông với Gưl. Ngày nay, các gia đình người Cor đã tách riêng ra trong từng ngôi nhà trệt. Người Cor không biết dệt vải. Bức tranh dân cư và phân bố tộc người trên địa bàn tỉnh Quảng Nam vô cùng phong phú. Đây là nơi giao lưu về nhân chủng cũng như văn hóa – xã hội giữa nhiều dân tộc thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ, nhiều ngữ hệ khác nhau, giữa cư dân thuộc ngữ hệ Nam Đảo (dân tộc Chăm) và cư dân thuộc ngữ hệ Nam Á (Cơ Tu, Xơ Đăng, Cor, Giẻ – Triêng), các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường (hầu hết là người Kinh/Việt) và ngôn ngữ Hán thuộc ngữ hệ Hán – Tạng; ngoài ra còn phải kể đến các dân tộc ở miền núi phía bắc mới di cư vào đây sau năm 1975.

                                                                                        N.P