“Dải thổ cẩm” điểm tô sắc màu đại ngàn

Bà Nobuko Otsuki,, Trưởng đại diện Tố chức Cứu trợ/ phát triển quốc tế Nhật Bản (FIDR) và các thợ dệt thổ cẩm trong buổi ra mắt khởi động mạng lưới thổ cẩm miền Trung – Tây Nguyên

Thổ cẩm là di sản chứa đựng nhiều yếu tố nền tảng, tinh hoa của văn hóa tộc người, là chất liệu làm nên bản sắc văn hóa dân tộc. Thổ cẩm và trang phục là bức khảm của văn hóa, chứa đựng trong đó cả di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc vùng Trường Sơn – Tây Nguyên. Trong quá khứ, các dân tộc có quan hệ giao lưu, học hỏi lẫn nhau về nghề dệt, trao đổi với nhau các sản phẩm dệt, đồ trang sức, ảnh hưởng qua lại về kiểu cách trang phục… Nếu người Kinh ở đồng bằng từ lâu đã hình thành “Con đường tơ lụa”, “Con đường gốm sứ” nhằm giao thương với bên ngoài thì người vùng cao cũng ra đời “Con đường muối”, “Con đường thổ cẩm” để lo cái ăn, cái mặc. Xuất phát từ yếu tố lịch sử, văn hóa đó, Tổ chức Cứu trợ/ Phát triển quốc tế của Nhật Bản (FIDR) đã khai sinh ra đứa con mang tên ghi đậm dấu ấn, sắc màu đại ngàn là “Dải thổ cẩm”, khởi động mạng lưới thổ cẩm của nhiều nhóm nghệ nhân dệt thuộc các dân tộc sinh sống ở vùng Trường Sơn – Tây Nguyên.

Nghề dệt vải thổ cẩm là nghề thủ công truyền thống lâu đời và phổ biến của các dân tộc vùng Trường Sơn – Tây Nguyên. Thổ cẩm là một phần của di sản văn hóa tộc người. Thổ cẩm, trang phục là diện mạo của di sản văn hóa tộc người. Nghề dệt truyền thống đã giúp đồng bào các dân tộc Tây Nguyên bảo lưu nhiều loại hình trang phục. Nghề dệt thủ công cổ truyền gắn bó với cuộc sống của đồng bào, là một phần quan trọng của tri thức dân gian, là di sản văn hóa, tài nguyên nhân văn quý giá của các tộc người. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nghề dệt của đồng bào các dân tộc ở vùng núi rừng Trường Sơn và Tây Nguyên đang có nguy cơ mai một, thất truyền. Việc sử dụng các sản phẩm thổ cẩm, trang phục truyền thống không còn phố biến, chỉ thấy xuất hiện trong các lễ hội, sắc màu văn hóa thổ cẩm đang bị mờ nhạt dần theo thời gian. Nhiều nơi, giống bông bản địa, còn gọi là “bông cỏ” cũng bị mất vì không còn ai gieo trồng và giữ giống. Một vài nghệ nhân biết dệt vải thổ cẩm nhưng không có nguyên liệu bông vải để hành nghề. Cây thuốc nhuộm vải trong rừng dần dần cũng đi vào quên lãng. Ngày nay, đồng bào không còn trồng bông, kéo sợi, nhuộm màu mà thường mua len, chỉ (của Trung Quốc) được sản xuất hàng loạt, bán ngoài thị trường để dệt vải. Hầu như cả vùng Tây Nguyên không còn ai trồng bông, kéo sợi, khai thác cây cỏ trong rừng núi để chế thuốc nhuộm màu như xưa. Chỉ có duy nhất người Cơ Tu ở làng Công Dồn ở núi rừng Trường Sơn còn biết dệt thổ cẩm theo lối cổ xưa, nhưng gần đây đồng bào đã đánh mất giống bông bản địa của mình, đó là “cây bông cỏ” phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu ở miền núi. Trong cuộc sống mưu sinh ở các buôn làng, thôn bản hiện nay, ta thấy nghề dệt truyền thống của đồng bào vẫn còn giữ gìn, bảo lưu ở một số buôn làng. Tuy nhiên, nguyên liệu dệt đã thay đổi, không giữ được cái hồn cốt của thổ cẩm truyền thống, nhất là hoa văn và sắc màu. Mặc dù nghề dệt của các dân tộc như Cơ Tu, Tà Ôi, Hre đã được vinh danh là “Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia”, nhưng không nhận được sự quan tâm hỗ trợ của chính quyền và ngành chức năng để tiếp tục giữ gìn, phát huy di sản quý báu của dân tộc…

Thợ dệt Cơ Tu huyện Nam Giang trình diễn nghề dệt tại buổi lễ ra mắt khởi động mạng lưới thổ cẩm

Cơ duyên đến với nghề dệt thổ cẩm của đồng bào vùng cao từ khi Tổ chức Cứu trợ/ Phát triển quốc tế Nhật bản (FIDR, trụ sở tại Đà Nẵng), quan tâm đến việc hỗ trợ, giúp đỡ sinh kế cho bà con sinh sống ở địa bàn miền núi tỉnh Quảng Nam. Qua thời gian gắn bó với các thôn bản vùng cao, những người bạn đến từ “Xứ sở hoa anh đào” đã bị cuốn hút bởi vốn văn hóa truyền thống của người Cơ Tu, trong đó có nghề dệt thổ cẩm. Gần 20 năm nay, làng dệt Zara (Tà Bhing, Nam Giang) luôn duy trì hoạt động, có thương hiệu riêng, có sản phẩm được nhiều nơi biết tiếng, là địa chỉ du lịch khám phá văn hóa vùng cao… nhờ có một phần hỗ trợ, tác động một cách hiệu quả, tích cực của FIDR. Nhìn thấy tiềm năng, triển vọng phát triển sản phẩm làng nghề nói riêng, di sản văn hóa truyền thống tộc người nói chung, có thể khai thác phục vụ hoạt động du lịch, bà Nobuko Otsuki, Trưởng Đại diện Tổ chức FIDR tại Việt Nam cùng với các cộng sự của mình đã có nhiều năm ấp ủ hình thành “mạng lưới dệt” để đánh thức nghề truyền thống của cả vùng Trường Sơn – Tây Nguyên. Qua nhiều lần vận động, khảo sát, tổ chức tập huấn, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của bà con, nhân dịp Hội thảo Khởi động mạng lưới thổ cẩm các dân tộc miền Trung – Tây Nguyên “mạng dưới dệt” đã chính ra mắt vào ngày 10/10 tại Đô thị cổ Hội An. Mạng lưới gồm 17 nhóm nghệ nhân dệt thuộc các dân tộc Cơ Tu, Xơ Đăng, Ba Na, Ê đê, M’nông, Mạ, Giẻ Triêng…. đang sinh sống ở 5 tỉnh, thành phố như Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên- Huế, Kon Tum, Đăk Nông. Riêng trên địa bàn miền núi tỉnh Quảng Nam, nhóm dệt của làng Zara còn có nhiều làng khác tham gia mạng lưới như La Dêê, La Êê, Dak Tôi, Tà Pơ, Zuôih, Chơ Chun (huyện Nam Giang), Đhơ Rôồng, Bhơ Hôồng (Đông Giang). Đặc biệt, xã Zuôih có đến 120 thợ dệt thổ cẩm tham gia mạng lưới. Điểm đáng chú ý là nhóm thợ dệt gồm 40 người ở thôn 4 xã Trà Cang (Nam Trà My) đăng ký tham gia mạng lưới. Nghệ nhân Nguyễn Thị Kim Lan (Hợp tác xã thổ cẩm Zara) được chọn trong Ban điều hành mạng lưới. Trong tương lai sẽ mở rộng nhiều địa bàn, nhiều nhóm nghệ nhân thuộc các thành phần dân tộc tham gia mạng lưới. Để hỗ trợ công tác truyền thông, tổ chức FIDR còn hình thành trang web mang tên weaving network. Những ai quan tâm có thể truy cập vào trang mạng này để tìm kiếm thông tin và các thành viên có thể liên lạc với nhau nhanh nhạy hơn để trao đổi, chia sẻ thông tin, hình ảnh, các hoạt động của nhóm…

Thợ dệt dân tộc Xơ Đăng, Nam Trà My trình diễn nghệ dệt thổ cẩm tại lễ ra mắt khởi động mạng lưới thổ cẩm

Việc khởi động mạng lưới thổ cẩm mang ý nghĩa nhiều mặt. Tham vọng của mạng lưới là tạo điều kiện, cơ hội để nghệ nhân các dân tộc trong khu vực, trong các tỉnh thành liên kết với nhau nhằm trao đổi, học hỏi kinh nghiệm, bí quyết, nâng cao tay nghề, chia sẻ những thông tin để quảng bá, xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Nghề truyền thống của đồng bào được duy trì cũng góp phần thay đổi diện mạo ở buôn làng, vừa giúp giữ gìn sắc phục dân tộc, vừa tạo công ăn việc làm, có thêm nguồn thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho đồng bào. Để duy trì hoạt động nghề dệt truyền thống lâu đời của các dân tộc, chúng ta cần quan tâm hơn những yếu tố làm nên thổ cẩm, di sản trân quý của nền văn hóa tộc người. Đó là việc duy trì, bảo lưu nghề dệt của đồng bào đang sinh sống trong địa bàn của mình và một số địa phương lân cận. Các tỉnh Tây Nguyên cần thực hiện sớm các dự án bảo tồn nghề dệt và trang phục cho đồng bào dân tộc. Với tiềm năng đất đai sẵn có, tỉnh cần hình thành trung tâm trồng và sản xuất bông để cung cấp cho đồng bào địa phương nguồn bông vải thường xuyên và ổn định để đồng bào có nguyên liệu chế biến theo đúng quy trình truyền thống và dệt nên những sản phẩm mang đậm dấu ấn văn hóa của từng dân tộc như màu sắc, mô típ hoa văn và trực tiếp bán sản phẩm thổ cẩm cho du khách. Cần nghiên cứu áp dụng các mô hình thổ cẩm ứng dụng trong trường học, nhất là các trường dân tộc nội trú ở tỉnh và huyện. Khuyến khích học sinh sử dụng những sản phẩm thổ cẩm như trang phục, túi xách, mũ, tấm choàng… Mô hình này được thực hiện khá thành công ở các trường có học sinh là dân tộc ít người ở tỉnh Kon Tum. Thường xuyên tổ chức các hoạt động quảng bá, giới thiệu về di sản văn hóa thổ cẩm đến mọi người, nhất là khách du lịch một cách chuyên nghiệp và bài bản như Lễ hội văn hóa thổ cẩm toàn quốc do tỉnh Đăk Nông đăng cai vào đầu năm 2019. Thông các các lễ hội truyền thống, tuyên truyền cho người dân, nhất là thế hệ trẻ trân trọng sản phẩm thổ cẩm, trang phục dân tộc, cùng chung tay giữ gìn bản sắc văn hóa của từng tộc người.

Dải thổ cẩm là “sân chơi” của các thợ dệt – chủ nhân của các sản phẩm thổ cẩm khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên. Đây là một hoạt động ý nghĩa nhằm tạo ra cơ hội và môi trường thuận lợi, thích hợp nhất để giúp bà con được kết nối và lan tỏa các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Nghề dệt truyền thống là một di sản quý báu cần được bảo tồn và phát triển, vừa góp phần giữ gìn được bản sắc tộc người vừa tạo sinh kế lâu dài, phát triển bền vững cho cộng đồng các dân tộc thiểu số vùng Trường Sơn – Tây Nguyên.

T.K