Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng các dân tộc miền núi Quảng Nam

Miền núi Quảng Nam là địa bàn cư trú của các tộc người Cơ Tu, Ca Dong (thuộc nhóm Xê Đăng), Cor, Giẻ – Triêng. Đối với cư dân miền núi Quảng Nam, cũng như các dân tộc thiểu số cư trú dọc Trường sơn và Tây Nguyên, xưa kia dường như không có khái niệm về ranh giới hành chính xã, huyện, tỉnh, thậm chí cả ranh giới quốc gia, mà chỉ có khu vực cư trú của từng dân tộc. Tổ chức xã hội cao nhất của cư dân miền núi lúc bấy giờ là làng, người Cơ Tu gọi là Vêêl, Bươl, Kr’non; người Ca Dong, người Cor gọi là Plơi. Làng dân tộc miền núi không có nơi ở cố định, sau vài mùa trồng tỉa, đất đai không còn màu mỡ, người ta phải tìm nơi khác để đốt nương phát rẫy, khi rẫy mới quá xa nơi ở, phải dời cả làng theo để gần rẫy mới; lúc trong làng có bệnh dịch, có người chết dữ cũng dời làng đi nơi khác, từ đó hình thành tập quán du canh du cư.

Nhà dài Cơ Tu

Ở miền núi rất khó chọn nơi bằng phẳng để làm nhà, do vậy qua kinh nghiệm dân gian, những ngôi nhà sàn là kiểu kiến trúc phù hợp với mọi địa hình. Ở nhà sàn vừa phòng tránh được thú dữ, bếp lửa giữa nhà có thể sưởi ấm người ta trong những đêm giá rét… Các loại vật liệu để làm nhà như tranh, tre, nứa lại rất dễ tìm ở rừng núi. Như vậy thói quen ở nhà sàn xuất phát từ yêu cầu thích nghi với điều kiện tự nhiên của con người. Xưa kia, để tiện cho sinh hoạt cộng đồng và dễ dàng tương trợ nhau, nhiều gia đình người dân miền núi vùng Trường Sơn – Tây Nguyên thường sống chung trong một ngôi nhà dài, cửa ra vào trổ ở hai đầu hồi, ở giữa là lối đi, hai bên chia ngăn riêng cho từng hộ, mỗi ngôi nhà có thể chứa hàng chục gia đình, chỉ cần vài ngôi nhà dài là đủ chỗ ở cho cả làng. Dần dần về sau người ta tách ra làm những ngôi nhà riêng cho từng gia đình. Ngày xưa, làng các dân tộc thiểu số có tính độc lập và tự quản cao. Địa phận mỗi làng được phân định bằng ranh giới tự nhiên như con suối, cánh rừng, đỉnh núi… Mỗi làng có một nguồn nước sạch để dùng chung, có nơi chăn thả gia súc, khu nghĩa địa trong rừng, vùng rừng núi để săn bắn và hái lượm, những nương rẫy để các thành viên trong làng canh tác… Đứng đầu làng là một chủ làng, đó là người có uy tín, có đạo đức, mẫu mực, am hiểu nhiều tri thức bản địa, nắm vững luật tục, tập quán của dân tộc, được mọi thành viên trong làng nể phục bầu lên. Bên cạnh chủ làng có hội đồng già làng, gồm những người lớn tuổi có uy tín trong các gia đình trong làng, khi chủ làng muốn đưa ra một quyết định, một phán quyết nào đó thì phải được sự thống nhất của hội đồng già làng… Tất cả dân làng phải tôn trọng và tuân theo các quyết định, phán quyết đó. Chủ làng và hội đồng già làng có vai trò quyết định mọi việc trong quá trình quản lý cộng đồng, cả đối nội lẫn đối ngoại.

Người Cơ Tu sống quây quần thành từng làng nhỏ. Tùy theo địa hình của khu đất, làng Cơ Tu thường bố cục thành vòng hình tròn hoặc bầu dục, ở giữa là một ngôi nhà chung gọi là Gươl – dùng làm nơi sinh hoạt cộng đồng và tiếp khách. Gươl được xây dựng bằng vật liệu của núi rừng như gỗ, tre, lá nón, lá tranh… Sàn Gươl cao cách mặt đất khoảng 1,5m đến 2m, cầu thang gỗ đặt ở chính giữa hoặc 2 đầu hồi. Bên trong Gươl được trang hoàng bằng những đầu thú dân làng săn bắt được, các tượng gỗ người và động vật trong rừng, các cột và vách được trang trí bằng những mô típ hoa văn hình học, hình vẽ diễn tả cảnh sinh hoạt của dân làng được thể hiện bằng nét vẽ mộc mạc và màu sắc tự nhiên… Người Cơ Tu quan niệm Gươl là nơi linh thiêng nhất của làng, là cầu nối giữa con người với thần linh, nơi lưu giữ những giá trị tinh thần thiêng liêng nhất của cộng đồng(1). Nơi đây vừa lưu giữ nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, vừa diễn ra các sinh hoạt văn hóa, cũng là nơi hội đồng già làng họp bàn những vấn đề của làng, giải quyết những vướng mắc, mâu thuẫn trong các gia đình, tộc họ của cộng đồng người Cơ Tu. Làng Cơ Tu nào cũng có một cây cột buộc trâu (xơ-nur) được dựng ở chính giữa sân phía trước Gươl, đây có thể xem như là một tác phẩm về nghệ thuật tạo hình, có sự kết hợp giữa điêu khắc và hội họa. Cột xơ-nur có ý nghĩa rất quan trọng, đây là cây cột lễ của dân làng, nơi để dân làng giao tiếp với các đấng thần linh trong các dịp lễ tế, chính vì thế xơ-nur được chạm khắc và trang trí những hoa văn truyền thống đẹp nhất của người Cơ Tu.

Với người Cor, cây Nêu dựng giữa làng không chỉ có ý nghĩa tâm linh mà còn là một tác phẩm điêu khắc đặc sắc. Theo nhà nghiên cứu Lê Hồng Khánh: Cây Nêu (gơơch) hay còn gọi là cột lễ không chỉ là một nghi cụ trong lễ cúng thần có đâm trâu mà còn là một công trình điêu khắc độc đáo, thể hiện sinh động các sinh hoạt đời sống cùng thế giới tinh thần, tâm linh phong phú của đồng bào Cor. Những đường chạm, khắc, tô màu tạo thành các dải hoa văn, hình vẽ đa dạng trên cây Nêu thể hiện khá tập trung những nét đặc sắc trong nghệ thuật trang trí của một tộc người vốn có trình độ thẩm mỹ rất cao(2). Làng của người Giẻ – Triêng có quy mô nhỏ nhưng có nét độc đáo riêng với kiến trúc nhà sàn dài truyền thống. Những ngôi nhà dài của họ thường dựng ở sườn đồi thấp, dọc theo những dòng suối; ở những nơi có đất rộng thì các ngôi nhà quây quần thành hình bầu dục, chính giữa là nhà Rông – nơi sinh hoạt chung của làng. Nhà có kết cấu vững chắc với sàn cao khoảng 1m, vách gỗ, mái lợp tranh. Từ thời xa xưa, các thế hệ trong một gia đình người Giẻ – Triêng cùng sinh sống với nhau trong một ngôi nhà sàn dài. Mái nhà hình mai rùa, hai đầu đốc được trang trí bằng hai sừng trâu là hai nét đặc trưng trong kiến trúc nhà sàn của người Giẻ – Triêng. Cách bố trí mặt bằng sinh hoạt trong nhà dài thường theo nguyên tắc: giữa là một hành lang dùng làm lối đi, hai bên là nơi làm chỗ nghỉ ngơi của các hộ gia đình. Trang trí và sắp đặt các vật dụng sinh hoạt trong một ngôi nhà truyền thống của người Giẻ – Triêng luôn bố trí theo hướng từ Đông sang Tây. Người Giẻ – Triêng quan niệm hướng Đông là nơi ánh mặt trời buổi sáng bắt đầu cho một ngày, là hướng của thần linh, từ đây ánh nắng mặt trời tỏa đi khắp các hướng khác sưởi ấm cho vạn vật, để con người mạnh khỏe, muôn thú sinh sôi đông đúc, cây cối tốt tươi, đem lại hạnh phúc cho dân làng, vì thế, hai cửa ra vào mở ở hai bên hông của ngôi nhà, cửa chính được mở ở hướng Đông, cửa phụ nằm ở hướng Tây.

Nguồn nước đối với người Ca Dong rất quan trọng và linh thiêng. Người Ca Dong chọn những vùng có nguồn nước để lập làng (Plơi) và đặt tên cho làng của mình theo tên của con suối dẫn nước về làng đó (như Tak Pỏ, Tak Chanh, Tak Xa…). Mỗi Plơi của người Ca Dong có từ 20 đến 30 nóc nhà (spôk), làng nào cũng có một máng nước (lang-tak). Nhà ở thường san sát nhau, xen vào giữa là kho thóc của từng gia đình. Mỗi plơi có một ngôi nhà chung (Ưng) dựng ở giữa làng làm nơi hội họp của mọi người trong Plơi, đây cũng là nơi tiến hành các nghi thức tín ngưỡng.

Lễ hội Ca Dong

Khi dẫn nước từ những con suối đầu nguồn về sinh hoạt họ làm lễ cúng rất trang nghiêm. Lễ cúng máng nước là nét đẹp văn hóa của người Ca Dong. Theo Nguyễn Văn Sơn: Hằng năm, cứ vào thời điểm thu hoạch lúa mùa xong  (khoảng tháng  10, tháng 11), lúa đã phơi khô cất hết vào nhà kho  là thời gian nông nhàn, rảnh rỗi để  người Ca Dong tổ chức nhiều lễ hội tưng bừng theo nghi thức truyền thống riêng của cộng đồng. Trong  đó, có tục sửa chữa  lại máng nước và làm lễ cúng máng nước. Người Ca Dong cho rằng, cúng máng nước là hình thức củng cố tình đoàn kết cộng đồng và xã hội, và giáo dục con cháu nhớ về cội nguồn tổ tiên, nhớ về nguồn nước nơi cộng đồng đã định cư, sinh sống lâu đời(3). Xuất phát từ môi trường sống, phương thức sản xuất, tổ chức xã hội cổ truyền và tín ngưỡng dân gian, luật tục trong các cộng đồng dân tộc thiểu số được hình thành. Luật tục là một loại hình luật pháp sơ khai có tính quy ước nhưng rất được tôn trọng trong cộng đồng các dân tộc miền núi. Trong bối cảnh xã hội các làng sống mang tính khép kín, không chịu sự quản lý của một tổ chức nào cao hơn thì luật tục hết sức cần thiết để giữ gìn trật tự của cộng đồng. Ngày nay, các dân tộc thiểu số ở nước ta đều là thành viên trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, đều cùng phải tuân thủ luật pháp chung, bên cạnh đó vẫn còn nhiều quy định của luật tục mang tính tích cực, có thể hỗ trợ đắc lực cho luật pháp quốc gia; song cũng có không ít nội dung không phù hợp, thậm chí trái với pháp luật hiện hành, do đó phải biết phát huy những nội dung tích cực, hạn chế hoặc loại bỏ những điều không phù hợp đối với xã hội hiện nay.

Các tộc người thiểu số miền núi luôn quan niệm rằng ở đâu có rừng, có con sông, dòng suối thì ở đó làng mới tồn tại và phát triển vững bền được. Cuộc sống của dân làng luôn gắn với rừng, rừng không chỉ mang đến cho họ sự sống, rừng còn là cội nguồn văn hóa của họ… Chính vì thế, ngày nay khi thực hiện việc tái định cư cho đồng bào miền núi, phải chọn nơi phù hợp với tập quán của đồng bào để lập làng, không thể tách rời dân làng ra khỏi núi rừng. Thực tế cho thấy người dân một số vùng tái định cư theo mô hình hiện đại đã bỏ làng mới để trở về lại nơi gắn bó với đời sống của họ. Từ ngàn xưa, đồng bào đã có ý thức rất cao về việc bảo vệ môi trường sống của mình, nhất là cánh rừng già, rừng đầu nguồn… Để giữ được rừng, người Cơ Tu đã đặt ra luật tục quy định việc hạn chế khai thác cây rừng, phát nương làm rẫy… Luật tục bảo vệ rừng của người Cơ Tu luôn được cộng đồng làng tuân theo, không ai dám vi phạm vì sợ làm hại đến làng, đến thần linh. Người vi phạm phải chịu các hình phạt của làng hoặc bị đuổi ra khỏi làng. Vận dụng luật tục bảo vệ rừng vào đời sống cư dân miền núi sẽ mang lại hiệu quả cao trong việc bảo vệ môi trường núi  rừng.

Ngày nay, với cơ cấu tổ chức xã hội hiện đại, người chịu trách nhiệm điều hành ở cơ sở là trưởng thôn, tuy vậy, các già làng vẫn được nhân dân kính trọng, nghe theo. Việc điều hành xã hội theo mô hình hiện đại là điều tất yếu, tuy nhiên những giá trị văn hóa truyền thống của làng, những tri thức bản địa được sáng tạo, chắt lọc, lưu giữ và trao truyền từ bao đời vẫn còn nguyên giá trị, cần phải được bảo tồn và phát huy. Để giải quyết mối quan hệ giữa già làng với trưởng thôn, cần có một cơ chế linh hoạt, mềm dẻo nhằm kết hợp kinh nghiệm, uy tín, khả năng cố kết cộng đồng, duy trì vai trò truyền thống của già làng với trách nhiệm quản lý của trưởng thôn.

Vận dụng và phát huy giá trị văn hóa làng của đồng bào các dân tộc miền núi vào việc quản lý xã hội hiện đại sẽ nâng cao hiệu lựccủa bộ máy chính quyền từ cấp tỉnh đến cơ sở, giúp thực hiện tốt các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa xã hội khu vực miền núi, góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội, cải thiện đời sống đồng bào miền núi, đồng thời góp phần nâng cao nhận thức của nhân dân địa phương trong việc bảo tồn, khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ tốt đất đai và chủ quyền lãnh thổ.

H.X.T

Chú thích:

(1) Tấn Vịnh. Nhà Gươl Cơ Tu. Góp phần tìm hiểu văn hóa Quảng Nam. 2008 tr 377

(2) Lê Hồng Khánh.Nghệ thuật trang trí trên cây Nêu của người Cor. Thế giới Di sản điện tử.

(3) Nguyễn Văn Sơn. Tục cúng máng nước của đồng bào Ca Dong. Báo Quảng Nam, thứ Sáu 27.10.2006