Ảnh hưởng của biển đến sự hình thành văn hóa cổ truyền ở làng biển Bình Minh

Với chiều dài gần 3.260 km tiếp giáp đại dương, biển đã có những tác động không nhỏ đến đời sống của cộng đồng cư dân trên dải đất hình chữ S từ bao đời nay. Biển không chỉ là nguồn sống mà còn trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng, chi phối đến sự định hình các giá trị văn hóa vùng duyên hải. Bình Minh – một xã nằm ven biển phía Đông của huyện Thăng Bình tuy không phải là trường hợp nghiên cứu điển hình về cấu trúc diện mạo của một làng cổ truyền theo quy chuẩn chung

Lễ hội văn hóa – thể thao ở Bình Minh

nhưng là minh chứng tuyệt vời cho quá trình chinh phục và chế ngự thiên nhiên, bảo tồn và gìn giữ yếu tố biển trong mọi khía cạnh đời sống. Một không gian văn hóa cổ truyền với nhiều giá trị vật chất và tinh thần chịu ảnh hưởng đậm nét của biển cả đã góp phần tạo dựng nên một sắc thái rất riêng cho Bình Minh.

  1. Không gian thờ tự thấm đẫm yếu tố văn hóa biển

Theo lời kể của các vị tiền bối thì đình Tiền hiền của làng Hà Bình (thuộc Bình Minh) trước kia được xây dựng cách lăng cá Ông cũ khoảng 500 m về phía Tây. Sau nhiều lần bị tàn phá do chiến tranh, đến năm 1979, với sự đóng góp của nhân dân trong vùng, đình Tiền hiền được xây dựng lại bên bờ biển để phục vụ cho các hoạt động lễ nghi, lễ cúng diễn ra theo định kỳ.

Cùng với đình Tiền hiền, lăng thờ cá Ông là nơi thể hiện rõ nhất dấu ấn biển. Lăng Ông là cơ sở ghi nhận sự tồn tại của tục thờ cá Ông[1] – nơi thờ tự trang nghiêm của cả làng biển. Mặc dù bị chiến tranh tàn phá nhưng sau khôi phục dân làng vẫn xây dựng trên nền đất cũ, xung quanh lăng là nơi an táng cá Ông. Theo quan niệm của dân làng chài mỗi khi cá Ông lụy và nhập bến là vinh dự lớn, là phước lành mang đến cho cả làng. Vì vậy, dân làng tổ chức lễ tang rất long trọng, có chiêng trống, ban nhạc, hát đưa, cử người đeo khăn trắng chịu tang (thường là người quản vạn lo việc tế tự trong năm đó của làng).

Lệ cúng ở lăng Ông thường diễn ra vào dịp Tết Nguyên Đán, lệ Xuân Thu và các lệ khác của làng như lễ tạ đình Tiền hiền. Ngoài ra, các bạn ghe, đội thuyền khi xuất bến hay tạ lễ đều đến bái tại lăng cá Ông. Đặc biệt, ở Bình Minh, ngoài lăng cá Ông, các vạn chài còn xây dựng lăng, miếu thờ nhiều vị thần sông nước khác như Thủy Long, Hà Bá… Lăng thờ Thủy Long gọi là lăng Bà Thủy Bá để cầu xin xá tội cho những lần đi biển làm kinh động vùng sông nước do Bà cai quản.

  1. Ảnh hưởng của yếu tố biển đến sự định hình các giá trị văn hóa ở Bình Minh

Ẩm thực là khía cạnh chịu sự chi phối mạnh mẽ nhất của điều kiện tự nhiên và thể hiện sự thích nghi của con người nơi đây với biển cả. Vì là cư dân biển nên khẩu vị ăn uống của người Bình Minh thường mặn hơn, “ăn đậm, uống đậm”. Và cũng khá dễ hiểu khi cá là nguyên liệu chính trong các bữa ăn. Mặc dù chủng loại cá khá phong phú nhưng do tác động của cuộc sống lênh đênh trên biển cả nên cách thức chế biến chủ yếu là “kho đơn giản”[2] để đảm bảo độ tươi ngon của cá.

Từ nguyên liệu phổ biến này, nghề làm nước mắm cũng dần trở thành nghề truyền thống từ bao đời nay của cư dân vùng biển Bình Minh. Nguyên liệu để làm nước mắm thường chủ yếu là cá “nục” và cá “cơm”. Theo kinh nghiệm của dân địa phương cá ngon nhất làm mắm đó là cá “cơm than” được đánh bắt vào tháng 3 âm lịch. Vì cá cơm than vào tháng này rất nhiều chất đạm, vừa ngon lại dậy lên hương thơm đặc trưng. Để làm được những vại mắm lớn thường phải do người có kinh nghiệm – nghĩa là người “có tay muối mắm” theo công thức pha chế 5 cá + 2 muối.

Nguồn hải sản phong phú được đánh bắt thường xuyên cũng tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động buôn bán phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau. Đối với hải sản đã qua chế biến, bạn hàng thường xuyên của ngư dân Bình Minh là “ngõ nguồn[3] nhằm đổi lấy lúa gạo và các vật phẩm thiết yếu khác. Trước đây, việc bán mắm, bán cá cho bạn hàng ngõ nguồn thật gian nan khi đường sá còn khó khăn, phương tiện giao thông còn thô sơ, chủ yếu là đi bộ. Vì thế, các chị, các mẹ phải thức dậy từ một, hai giờ sáng gồng gánh ra đi. Hàng cá mắm phải chuẩn bị sẵn sàng từ chiều hôm trước. Việc trao đổi mua bán trước đây không như bây giờ. Không phải dân ngõ nguồn ai cũng có sẵn tiền mặt để trả nên nhiều lúc lúa, gạo, khoai, sắn, đường bát…trở thành vật ngang giá chung. Đôi khi, một số nhà còn hẹn lại đến vụ mùa. Nếu gặp vụ mùa, thu hết cả nợ cũ lẫn nợ mới thì trên đôi vai của các mẹ, các chị khi quay về cũng nặng trĩu lúa, thóc và các vật phẩm khác. Hiện nay, tuy đường sá và phương tiện đã được cải thiện nhưng phương thức buôn bán trên vẫn tồn tại song không đóng vai trò quan trọng sống còn như trước.

Ngoài việc chế biến cá thành mắm, nước mắm, cá kho là một trong những cách thức chế biến được người Bình Minh ưa chuộng do sự đơn giản, tiện dụng và giữ nguyên được hương vị biển cả. Cá ngay sau khi cập bến được rắc (rải) hoặc sắp đều vào chiếc rổ nhỏ đem luộc chín, hong cho ráo nước rồi vận chuyển đến các khu chợ chợ Vinh Huy (xã Bình Trị), chợ Việt An (xã Bình Lâm, huyện Hiệp Đức), chợ Đông Phú (thị trấn Đông Phú, huyện Quế Sơn).

Đối với nguồn hải sản tươi, trước đây do không có kỹ thuật làm lạnh thì phần lớn tập trung các chợ gần như chợ Trà Đóa, chợ Được, chợ Hưng Mỹ, xa hơn là chợ Bình Phục, chợ Hà Lam. Hiện nay, cá của biển Bình Minh đã được vận chuyển đến nhiều nơi xa hơn và cung cấp cho nhu cầu của đại bộ phận nhân dân trên phạm vi không gian rộng lớn hơn. Chính hoạt động buôn bán mang đậm yếu tố địa phương như vậy nên bức tranh biển Bình Minh vào lúc tinh mơ diễn ra vô cùng nhộn nhịp. Có thể đó là những nụ cười hạnh phúc của những chị, những mẹ… khi người thân được trở về bình yên sau chuyến đi biển dài ngày. Có thể là những tiếng mặc cả, trả giá, mua bán ồn ào cả một góc biển nhưng điều đó đã góp phần hình thành tính cách người Bình Minh – “thật thà, hiếu khách”, “ăn sóng nói gió” với khí chất mạnh mẽ, nóng nảy dễ gây phiền lòng người khác. Tuy nhiên, cũng chính họ là chủ nhân tạo ra và lưu giữ những di sản văn hóa tinh thần mang đậm bản sắc văn hóa biển mà trong đó không thể nào không nhắc đến “khẩu ngữ địa phương”.

Theo nguồn tư liệu chúng tôi tiếp cận được, có nhiều ngôn từ mà chỉ có ngư dân Bình Minh mới hiểu, nhất là các địa danh trên biển, như Chà 7 sải, Mười Sáu, Hai Mốt, Hai Ba, Chớn, Chớn Cạn, Chớn Khơi, Ba Tai, Đâu Tai, Giáp Mũi. Ngày xưa bằng kinh nghiệm xác định địa điểm trên theo cách so sánh với hệ thống đảo xung quanh, núi ven bờ, độ sâu từ mặt nước xuống đáy biển và dựa vào hướng gió thổi. Ví dụ như, để đo độ nước thì ngư dân cột 1 vật nặng (đá hoặc chì) vào đầu dây cước thả chìm xuống chạm đất đáy biển sau đó đo độ bằng sải tay (1sải tay khoảng tương đương 1,5m). Vì vậy, mới có địa danh được gọi là Chà 7 sải …Ban đêm ngư dân còn căn cứ vào các chòm sao sáng trên trời hoặc vầng trăng còn khuyết để định hướng di chuyển ra khơi, vào bờ, đi lên “mạn Bắc ” hoặc đi xuống “mạn Nam”. Sao Hôm mọc phía Tây vào đầu buổi tối, sao Mai mọc phía Đông gần sáng, sao Bánh Lái hướng Bắc, sao Cân Nước hướng Nam là những ngôi sao trợ giúp định vị phương hướng. Còn nhìn trăng thì “đầu tháng trăng khuyết sừng nhọn trỏ đông, cuối tháng trăng khuyết sừng nhọn trỏ tây” cũng là nguyên tắc xác định hướng trong đêm…[7].

Lễ hội cầu ngư ở xã Bình Minh – huyện Thăng Bình

Cũng do chịu ảnh hưởng bởi yếu tố biển nên mọi hoạt động lễ hội, văn hóa nghệ thuật của Bình Minh đều có dấu ấn riêng khó bị hòa lẫn mà trong đó lễ hội cầu ngư (trong đó có hát bả trạo) là minh chứng rõ nét nhất. Xuất phát từ các điển tích, thần tích được lưu truyền từ xa xưa, đến thời vua Tự Đức, ngày mồng mười tháng ba âm lịch hàng năm làm ngày lễ tế Ông Nam Hải và mở hội Cầu ngư. Tại xã Bình Minh hiện nay, lễ hội cầu ngư không được tổ chức theo ngày cố định mà tùy theo mỗi vạn chài (có làng tổ chức vào ngày 1 tháng 4 dương lịch – ngày Bác Hồ về thăm làng cá). Nghi lễ cúng tế thường được tổ chức đầy thành kính trước lăng Ông với lễ Vọng, lễ Nghinh rước (trên cạn và trên biển)…Dù tiến hành dưới bất kỳ hình thức nào thì tục thờ cá Ông nói riêng và lễ hội Cầu ngư nói chung là biểu hiện thế ứng xử của ngư dân trong quan hệ với Thần – Người và Biển.

Hiện nay, xã Bình Minh vẫn duy trì thường xuyên hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng này với sự ra đời của CLB Bả trạo xã Bình Minh đã thu hút 20 thành viên tham gia, gồm 1 tổng tiền, 1 tổng lái, 1 tổng hậu, 1 tổng khoang và 16 con trạo. Ngoài ra, phần lớn người dân nơi đây gắn cuộc đời với những tháng ngày lênh đênh trên biển nên họ rất tin vào các hiện tượng tự nhiên. Do đó, ngoài việc cúng ở lăng cá Ông và đình Tiền hiền thì sau mỗi chuyến ra khơi họ thường mang những sản vật đánh bắt được và bày ra trên mặt đất sát mặt nước biển để cúng các vị thần ở biển. Việc này thường do các chủ thuyền đứng ra cúng lễ.

Chính cái nắng, cái gió miền biển đã góp phần định hình các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của người Bình Minh. Biển nuôi dưỡng tâm hồn, biển hình thành tính cách con người, phong tục tập quán, các thế ứng xử, lối sống, lễ hội, tôn giáo tín ngưỡng… mang đậm sắc thái đặc trưng của vùng đất này.

Là một làng quê còn nghèo về điều kiện kinh tế nhưng có lẽ đó lại là nguyên nhân khiến cho nét văn hóa làng cổ truyền ở đây được lưu giữ gần như trọn vẹn. Tốc độ đô thị hóa chậm đã một phần nào đó khiến cho các cơ sở thờ tự, nét sinh hoạt hàng ngày, ngôn ngữ địa phương chậm bị biến đổi hoặc bị hiện đại hóa nhanh chóng. Người dân nơi đây vẫn giữ nguyên nét hồn nhiên, thật thà, ngay thẳng như vậy từ bao đời nay. Đời sống tâm linh vẫn được bảo lưu thông qua các nghi lễ  thờ cúng và đặc biệt là lễ hội cầu ngư. Tất cả đã góp phần tạo nên một Bình Minh đầy gắn kết, tình người nơi đây thật sự đáng trân trọng.

Thế nhưng, những giá trị cổ truyền ấy đang dần bị mai một, vì vậy cần lắm sự chung tay của chính quyền địa phương và người dân cùng các nhà nghiên cứu, quản lý để góp phần bảo lưu, gìn giữ và trao truyền những giá trị văn hóa đáng quý này.

N.T.V.L

TÀI LIỆU THAMKHẢO

[1]. Lê Phương Chi (2002), Văn học Dân gian Quảng Nam Miền Biển (dịch ra chữ Quốc Ngữ), Sở Văn hóa thông tin Quảng Nam, Quảng Nam.

[2]. Phan Khoang (2000), Việt sử xứ Đàng trong, NXB Văn học, Hà Nội.

[3]. Ngô Đức Thịnh (chủ biên) (2000), Văn hoá dân gian làng biển, NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội.

[4]. Ngô Đức Thịnh (2008), Tín ngưỡng và lễ hội cổ truyền, Viện Văn hóa, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.

[5]. Huỳnh Ngọc Trảng (2004), Duyên hải miền Trung – Đất và người, Tạp chí Xưa & Nay, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.

[6]. Nguyễn Phước Tương (2004), Hội An di sản văn hóa thế giới, NXB Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh.

[7]. Nguyễn Văn Vinh (2012), Địa chí xã Bình Minh, Đảng ủy – Ủy ban nhân dân xã Bình Minh.

[8]. Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Quảng Nam (2004), Phong tục – Tập quán – Lễ hội Quảng Nam, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

Chú thích:

[1] Cá Ông được xưng tôn là Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Tôn Thần.

[2]  Cá sau khi đánh bắt thì được rửa sạch và nấu ăn ngay để đảm bảo độ tươi ngon của nguyên liệu, gần như không sử dụng thêm bất kỳ loại gia vị nào.

[3]  Ngõ nguồn là từ chỉ vùng Bình Quý lên Bình Định, Bình Trị, Bình Lãnh, Bình Lâm bây giờ, có người đi ra cánh ngoài của xã thuộc huyện Quế Sơn, đi vào cánh trong xã Bình Chánh, Bình Phú ngày nay.