400 năm Francisco De Pina đến Đàng Trong và đóng góp của những giáo sĩ người người Bồ Đào Nha với sự ra đời chữ Quốc ngữ

Theo các nguồn sử liệu thì người Bồ Đào Nha lần đầu tiên đến Việt Nam vào năm 1516[1]. Một trăm năm sau đó, giáo sĩ Dòng Tên (Jesuite)[2] Francisco de Pina đến Đàng Trong. Để rồi tại đây trở thành nơi đầu tiên ra đời chữ Quốc ngữ và gắn liền với công lao của vị giáo sĩ này.

Quá trình truyền giáo tại Việt Nam bắt đầu từ thế kỷ XVI mà mốc khởi điểm được cho là năm 1523 khi Duarte Coelho (người Bồ Đào Nha) đến Đàng Trong và Cù Lao Chàm, đã để lại ở gần làng chài Tân Hiệp một cây thập tự và một tảng đá có khắc tên[3]. Năm 1533, giáo sĩ Ignatio đến Ninh Cường, Quần Anh, Trà Lũ (Nam Định) truyền giáo[4]. Sau đó có một số giáo sĩ Dòng Đa Minh (Dominicain), Dòng Phanxicô (Francisco) đến truyền giáo. Tuy vậy, phải đến năm 1615 khi ba tu sĩ Dòng Tên là linh mục Francesco Buzomi (Ý), linh mục Diego Carvalho (Bồ) và thầy Antonio Dias (Bồ) đến Đàng Trong truyền giáo thì sự thâm nhập của đức tin Kitô tại Việt Nam mới diễn ra nhanh hơn.

Trong quá trình truyền giáo, vấn đề khách quan đặt ra là các giáo sĩ phải biết tiếng Việt hoặc chữ Hán. Chữ Hán được đánh giá là khó học và mất nhiều thời gian nên các giáo sĩ buộc phải học tiếng Việt. Trong quá trình đó, họ đã Latin hóa tiếng Việt, sáng tạo nên chữ Quốc ngữ mà các giáo sĩ Dòng Tên người Bồ Đào Nha là những người đi tiên phong trong lĩnh vực này.

Francisco de Pina – người đặt nền móng vững chắc đầu tiên

Francisco de Pina sinh năm 1585 ở Guarda, Beira Alta (Bồ), gia nhập Dòng Tên năm 1605. Năm 1608, ông được chỉ định sang Nhật truyền giáo, rồi học thần học ở Macao (năm 1615 – 1616). Ông được thụ phong linh mục năm 1616 tại Malacca. Sang năm 1617, ông đến Đàng Trong và hoạt động tại đây cho đến khi mất vào ngày 15.12.1625[5].

Trong khoảng thời gian ở Đàng Trong, ông học tiếng Việt, sau đó trở thành giáo sĩ giỏi tiếng Việt nhất vào thời điểm bấy giờ và góp công đầu trong quá trình hình thành chữ Quốc ngữ. Dấu mốc quan trọng nhất là vào năm 1618, Francisco de Pina và một thanh niên học thức Việt Nam dịch ra tiếng Việt cuốn Kinh Lạy Cha cùng với một số kinh căn bản khác trong giáo lý Công giáo. Điều đáng tiếc là không bản dịch nào của các kinh ấy đến tay chúng ta, ngoại trừ đoạn dịch sáu từ đầu tiên của Kinh Lạy Cha được ghi ra như một ví dụ văn phạm trong cuốn Từ điển Việt – Bồ – La của Alexandre de Rhodes[6]. Tuy vậy, Kinh Lạy Cha được sao lại vào năm 1632 trong tài liệu ngôn ngữ học Nhật – Hoa – Việt, tại Áo Môn. Trong phần chuyên khảo về Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam, GS. Roland Jacques đã có dịp giới thiệu tư liệu này và kèm theo phụ trương văn bản tiếng Việt “Le Pater Noster” (Kinh Lạy Cha)[7]. Đây là tư liệu rất quý giá, cho thấy sự bắt đầu chữ Quốc ngữ là năm 1618, sớm hơn 2 năm so với quan điểm của Đỗ Quang Chính (1620)[8]. Đồng thời khẳng định công lao to lớn của Francisco de Pina và cả một số người Việt (tiếc là không được đề cập tên cụ thể).

Hội thảo Dinh trấn Thanh Chiêm và chữ Quốc ngữ tổ chức tại Điện Bàn năm 2016

Năm 1620, các giáo sĩ Dòng Tên tại Hội An soạn thảo một sách giáo lý bằng “chữ Đàng Trong”, tức là chữ Nôm. Tác giả Đỗ Quang Chính đưa ra phỏng đoán rằng: “Nhưng chúng tôi tưởng cuốn này cũng được viết bằng chữ Việt mới nữa (chữ Quốc ngữ ngày nay), mà người có công soạn thảo là Linh mục Francisco Pina vì lúc đó chỉ có ông là người Âu châu thạo tiếng Việt nhất”[9]. Cho đến nay vẫn chưa có bằng chứng cụ thể minh chứng cho giả thiết này. Nhưng có một điều có thể khẳng định là Francisco de Pina có tham gia vào quá trình soạn thảo hoặc góp ý cho sách giáo lý bằng chữ Nôm này, vì ông là người giỏi tiếng Việt nhất và là linh mục khá được trọng vọng trong giới giáo sĩ ở Hội An thời điểm đó.

Khoảng thời gian năm 1622 – 1623 đánh một dấu mốc quan trọng nữa trong quá trình hình thành chữ Quốc ngữ. Trong thư Francisco de Pina viết vào thời gian này đã nhắc đến việc ông soạn sách chữ Quốc ngữ: “Phần con, đã soạn thành một tập nhỏ về chính tả và các dấu thinh của tiếng này [Việt], và con đang bắt tay vào việc soạn ngữ pháp. Dù con đã thu thập được nhiều truyện thuộc các loại khác nhau giúp cho những trích dẫn thêm giá trị, hầu xác quyết được ý nghĩa của từ ngữ và quy luật ngữ pháp”[10]. Như thế, ông đã soạn chính tả và cả ngữ pháp chữ Quốc ngữ. Tuy tài liệu này hiện không còn nhưng đã được Alexandre de Rhodes kế thừa trong cuốn Từ điển Việt – Bồ – La vào năm 1651.

Ngoài ra, Francisco de Pina còn dạy tiếng Việt cho Alexandre de Rhodes và Antonio de Fontes. Thư của Gabriel de Matos viết vào năm 1626 đã cho thấy điều đó: “Cư sở thứ ba tại ‘thủ phủ’ quan ‘trấn thủ’, nơi mà lúc này tôi [đang tạm trú], có ba Linh mục định cư: L.m. Francisco de Pina biết tiếng [Việt] khá lắm, làm bề trên và là giáo sư [dậy tiếng Việt], và các L.m. Đắc Lộ cùng Antonio de Fontes là thuộc viên và học viên”[11].

Với những công lao to lớn đó, Francisco de Pina xứng đáng được chúng ta tôn vinh là người đầu tiên đặt nền móng cho sự ra đời của chữ Quốc ngữ.

Sự tiếp nối của những giáo sĩ Bồ Đào Nha

Sau những nỗ lực của Francisco de Pina, nhiều giáo sĩ Dòng Tên khác cũng đã ghi tên mình vào quá trình Latin hóa tiếng Việt và sáng tạo chữ Quốc ngữ. Có thể kể đến là các giáo sĩ Gaspar Luis, Francesco Buzomi, Antonio de Fontes, Gaspar de Amaral, Antonio Barbosa, Girolanno Maiorica, Cristoforo Borri, Onofre Borges, Alexandre de Rhodes[12],… Trong đó, các giáo sĩ người Bồ Đào Nha có một vai trò quan trọng. Những đóng góp của họ được thể hiện trên hai phương diện: (1) viết một số chữ Quốc ngữ trong các bức thư hay bản tường trình gửi về Tòa thánh, Cha bề trên; (2) soạn từ điển tiếng Việt.

Trên phương diện thứ nhất, nhiều tư liệu viết tay của các giáo sĩ Dòng Tên Bồ Đào Nha trong thời gian nửa đầu thế kỷ XVII có viết chữ Quốc ngữ. Trong công trình nghiên cứu Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620 – 1659, tác giả Đỗ Quang Chính đã dẫn ra các dẫn chứng: Hai bản tường trình của Gaspar Luis năm 1621 và năm 1626, bản tường trình của Antonio de Fontes[13] viết năm 1626. Đặc biệt, Gaspar de Amaral[14] viết một tài liệu bằng chữ Bồ Đào Nha tại Kẻ Chợ (Thăng Long) ngày 31.12.1632 với nhan đề “Annua do reino de Annam do anno de 1632, pera o Pe André Palmeiro da Compa de Jesu, Visitador das Provincias de Japam, e China” (Bản tường trình hàng năm về nước Annam năm 1632, gửi Cha André Palmeiro, Dòng Tên, Giám sát các Tỉnh Dòng Nhật Bản và Trung Hoa). Tài liệu này hiện lưu trữ tại Văn khố Dòng Tên ở La Mã. Trong bản này có rất nhiều chữ Quốc ngữ[15]. Đến năm 1637, ông lại soạn một bản tường trình tại Kẻ Chợ (Thăng Long) ngày 25.3.1637 với nhan đề “Relaçam dos catequistas da Christamdade de Tumk. e seu modo de proceder pera o Pe Manoel Dias, Vissitador de Jappão e China” (Tường thuật về các thầy giảng của giáo đoàn Đàng Ngoài và về cách thức tiến hành của họ, gửi Cha Manoel Dias, Giám sát Nhật Bản và Trung Hoa [Dòng Tên])[16]. Tài liệu này hiện lưu trữ tại Văn khố Hàn lâm viện Sử học Hoàng gia Madrid [17]. Trong bản này cũng có nhiều chữ Quốc ngữ[18]. Khi so sánh hai bản của Gaspar de Amaral vào năm 1632 và 1637, chúng tôi đồng quan điểm với tác giả Đỗ Quang Chính khi nhận định Gaspar de Amaral đã viết một số chữ Quốc ngữ khá hơn[19]. Và so sánh với bản thảo cuốn sách Tunchinensis Historiae libri duo (Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài) của Alexandre de Rhodes soạn phần lớn vào năm 1636 thì cách ghi chữ quốc ngữ của Gaspar de Amaral từ năm 1632 đã rành hơn Alexandre de Rhodes[20].

Các nhà nghiên cứu tham dự hội thảo

Ở phương diện thứ hai, đã có hai cuốn từ điển do hai giáo sĩ Dòng Tên Bồ Đào Nha soạn trước khi cuốn Từ điển Việt – Bồ – La của Alexandre de Rhodes ra đời năm 1651. Cuốn đầu tiên là Từ điển Việt – Bồ – La (Diccionário anamita-português-latim) do Gaspar de Amaral soạn. Chính Alexandre de Rhodes trong lời tựa cuốn từ điển của mình viết năm 1651 tại La Mã đã nói rõ mình dùng những công khó nhọc của các linh mục Dòng Tên khác, nhất là dùng hai cuốn từ điển của Gaspar de Amaral và Antonio Barbosa để soạn thảo sách đó[21]. Đáng tiếc là cuốn từ điển này của Gaspar de Amaral chưa được ấn hành thì ông qua đời và nó cũng thất lạc. Cuốn thứ hai là của linh mục Antonio Barbosa[22], cuốn Từ điển Bồ – Việt (Diccionário português-anamita). Về thời điểm soạn, tác giả Đỗ Quang Chính cho rằng ông soạn vào thời điểm còn ở Đàng Ngoài, khoảng từ năm 1636 đến năm 1642 [23]. Số phận của cuốn từ điển này cũng giống với cuốn của Gaspar de Amaral. Như vậy, có thể thấy những đóng góp tiên phong rất lớn trong việc hình thành chữ Quốc ngữ ở Việt Nam của các giáo sĩ Dòng Tên người Bồ Đào Nha.

Đã tròn 400 năm giáo sĩ Dòng Tên Francisco de Pina đến Đàng Trong – một quãng thời khá gian dài nhưng những đóng góp của ông đối với sự ra đời chữ Quốc ngữ ở Việt Nam vẫn còn nguyên giá trị. Công việc của Francisco de Pina tiếp tục được các giáo sĩ Dòng Tên kế tục, trong đó nổi bật là hai giáo sĩ Bồ Đào Nha Gaspar de Amaral và Antonio Barbosa. Về sau các công trình của các ông được Alexandre de Rhodes kế thừa và phát huy trong cuốn Từ điển Việt – Bồ – La và Phép giảng tám ngày. Tuy rằng, chữ Quốc ngữ vẫn còn tồn tại một số hạn chế sau khi trải qua một quá trình dài hình thành, phát triển cho đến ngày ngay nhưng vị trí, vai trò của nó trong văn hóa – xã hội Việt Nam là không thể thay thế. Có được điều đó là nhờ một phần quan trọng công lao sáng tạo của những vị giáo sĩ này.

                           M.Đ

* Giảng viên Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Huế

[1] Pierre-Yves Manguin (1972), Les Portuguese sur les côtes du Việt-Nam et du Campa, Ecole Francaise d’Extrême – Orient, Paris, p. 3.

[2] Dòng Tên là dòng dòng tu mang tên Đức chúa Giêsu, được thành lập năm 1540 tại Rome.

[3] Phan Huy Lê (chủ biên) (2012), Lịch sử Việt Nam, tập 2, Nxb Giáo dục Việt Nam, tr. 374.

[4] Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr. 301.

[5] Lê Ngọc Bích (2000), Nhân vật Giáo phận Huế, Tập II, Ấn phẩm kỷ niệm 150 năm thành lập Giáo phận Huế 1850 – 2000, Lưu hành nội bộ, tr. 2-3; Klaus Shatz (2017), Hoa trái ở phương Đông Alexandre de Rhodes (1593 – 1660) và công cuộc truyền giáo thời kỳ đầu của Dòng Tên tại Việt Nam, Nxb Phương Đông, thành phố Hồ Chí Minh, tr. 312.

[6] Roland Jacques (2004), Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam, quyển 1, Định Hướng tùng thư, tr. 223.

[7] Xin xem: Roland Jacques (2004), Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam, quyển 1, Sđd, tr. 331-339.

[8] Đỗ Quang Chính (2008), Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620 – 1659, Nxb Tôn giáo, Thành phố Hồ Chí Minh.

[9] Đỗ Quang Chính (2008), Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620 – 1659, Sđd, tr. 28.

[10] Dẫn theo Đỗ Quang Chính (2008), Dòng Tên trong xã hội Đại Việt 1615 – 1773, Nxb Tôn giáo, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 45-46.

[11] Thư của Gabriel de Matos, giám sát các tu sĩ Dòng Tên ở Đàng Trong, viết tại Đàng Trong vào ngày 05.7.1626 gửi Linh mục Bề trên Cả Dòng Tên ở La Mã, viết bằng tiếng Bồ Đào Nha, ARSI, JS. 68, f. 17r (Dẫn theo Đỗ Quang Chính (2008), Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620 – 1659, Sđd, tr. 44-45).

[12] Trong đó các giáo sĩ không phải người Bồ Đào Nha và có các công trình là: Girolanno Maiorica là người Ý, có nhiều công trình phiên âm giáo lý bằng chữ Nôm; Cristoforo Borri người Ý, có công trình nghiên cứu phôi thai về ngữ pháp tiếng Việt; Francesco Buzomi người Ý với bức thư viết bằng tiếng Ý năm 1626, có sử dụng một số chữ Quốc ngữ viết theo lối cách ngữ như ngày nay; Onofre Borges người Thụy Sĩ gốc Đức, biên soạn Nhập môn tiếng Đàng Ngoài từ 1645 đến 1658; Alexandre de Rhodes người Pháp, trong các tài liệu ông viết vào các năm 1625, 1631, 1636, 1644, 1647 có nhiều chữ Quốc ngữ, nổi bật nhất là ông đã biên soạn cuốn Từ điển Việt – Bồ – La và Phép giảng tám ngày (viết bằng tiếng Việt và Latin).

[13] Gaspar Luis và Antonio de Fontes đều là người Bồ Đào Nha, hai ông đến Đàng Trong năm 1624 cùng với Alexandre de Rhodes và một số giáo sĩ khác.

[14] Gaspar de Amaral (1594 – 1646), ông sinh ra ở Corvaceira (Bồ Đào Nha), vào Dòng Tên năm 1608, thụ phong linh mục năm 1622. Ông đi truyền giáo từ năm 1623, hoạt động truyền giáo ở Đàng Ngoài từ năm 1629 đến năm 1638.

[15] Chúng tôi không tiếp cận được văn bản này. Những chữ Quốc ngữ được Đỗ Quang Chính chép lại trong cuốn Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620 – 1659, tr. 74-85.

[16] Tài liệu này không hoàn toàn do Gaspar de Amaral viết, nhưng ông đọc cho một người khác viết rồi chính ông soát lại, dùng bút sửa bên lề trang giấy một số chữ, cuối bản tường thuật chính ông viết thêm vào 13 dòng chữ kể cả chữ ký của ông. (Dẫn theo: Đỗ Quang Chính (2008), Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620 – 1659, Sđd, tr. 86).

[17] Real Academia de la Historia de Madrid, Jesuitas, Legajo 21 bis, Fasc. 16, .31-37r. (Dẫn theo: Đỗ Quang Chính (2008), Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620 – 1659, Sđd, tr. 86).

[18] Chúng tôi không tiếp cận được văn bản này. Những chữ Quốc ngữ được Đỗ Quang Chính chép lại trong cuốn Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620 – 1659, tr. 87-88.

[19] Đỗ Quang Chính (2008), Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620 – 1659, Sđd, tr. 88.

[20] Đỗ Quang Chính (2008), Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620 – 1659, Sđd, tr. 88.

[21] Đỗ Quang Chính (2008), Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620 – 1659, Sđd, tr. 89.

[22] Antonio Barbosa (1594 – 1647) sinh ra tại Arrifana de Souza (Bồ Đào Nha), gia nhập Dòng Tên ngày 13.3.1624, đến Đàng Ngoài vào cuối tháng 4.1636, sau đó trở về Áo Môn vào tháng 5.1642 vì lý do sức khỏe.

[23] Đỗ Quang Chính (2008), Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620 – 1659, Sđd, tr. 91.

400 YEARS OF FRANCISCO DE PINA SINCE THE DAY THEY CAME AND CONTRIBUTIONS FROM PORTUGUESE PRIESTS TO THE RELEASE OF THE NATIONAL SCRIPT

by  Mai Van Duoc

According to documentaries, the Portuguese first came to Vietnam in 1516. A hundred years later, the Jesuit priest Francisco de Pina arrived in Cochinchina. It was the first place where the national script was born and attached to the merit of this priest. It is around 400 years since he arrived in Cochinchina – a long time, but his contributions to the birth of the national script in Vietnam remain intact. Later, his works were inherited and promoted by Alexandre de Rhodes in the Vietnamese-Portuguese dictionary and eight-day teaching. However, the script still has had some limitations after going through a long process of formation and development to date but its position and role in Vietnamese culture and society is irreplaceable. This is thanks to a significant part of the creative work of these priests.