Từ làng chiếu Bàn Thạch nghĩ về việc phát triển nghề truyền thống

Làng chiếu Bàn Thạch ở xã Duy Vinh, huyện Duy Xuyên từng nổi tiếng một thời, góp phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động địa phương. Tuy nhiên, những năm trở lại đây, mặc dù đã có nhiều nỗ lực nhưng lao động trẻ theo nghề ngày càng ít..

Từ ngày chồng ngã bệnh, bà Nguyễn Thị Mùi, xã Duy Vinh, huyện Duy Xuyên không làm nghề sông nước nữa. Được người cháu cho một sào lác, bà quay lại với nghề dệt chiếu truyền thống của địa phương. Từ cây lác tươi, để làm ra nguyên liệu thành phẩm, những người làm chiếu như bà Mùi phải trải qua rất nhiều công đoạn. Trước hết phải chẻ rồi phơi 4-5 nắng cho lác ngả vàng.  Khoảng 5 bó lác tươi mới được một bó lác khô. Sau đó sẽ nhuộm màu cho lác. Tất cả công đoạn đều làm thủ công. Chính vì vậy rất vất vả, tốn nhiều thời gian. Thế nhưng giá thành sản phẩm không cao nên hiệu quả kinh tế mang lại thấp. Bà Nguyễn Thị Mùi vừa chẻ lác vừa chia sẻ: “Một bó lác khô dệt được 2 đôi chiếu. Mỗi đôi chiếu bán được từ 80-120 nghìn đồng tùy độ dài ngắn. Một ngày hai người dệt được có 1 đôi chiếu. Trừ tiền xăng, phẩm màu, tiền thuê chẻ lác tiền công một người dệt cùng với mình, ngày kiếm được khoảng 40 nghìn”.

Dù tiền thu được thấp nhưng so với nhiều người làm chiếu khác, bà Mùi vẫn hơn họ là có nguồn nguyên liệu sẵn trong nhà. Với những người làm chiếu thuê, số tiền nhận được tất nhiên còn thấp hơn. Phó Chủ tịch UBND xã Duy Vinh, huyện Duy Xuyên, ông Trần Văn Sành cho chúng tôi biết: “Thu nhập từ nghề chiếu thủ công quá ít  lại khan hiếm nguồn nguyên liệu nên nhiều người làm chiếu dần bỏ nghề. Trong những năm 2010-2013, xã Duy Vinh có khoảng 1.000 khung dệt, tập trung chủ yếu ở làng Đông Bình.  Đến nay, con số này chỉ còn khoảng 300 khung dệt với chủ yếu là người lớn tuổi, không thể chuyển nghề làm công việc khác. Lao động trẻ theo nghề hầu như không có.

Năm 2012, trong một chuyến vào miền Tây mua chiếu về bán, ông Đỗ Văn Phú, ở thôn Vĩnh Nam, xã Duy Vinh, huyện Duy Xuyên có dịp tiếp cận những chiếc máy dệt chiếu do người dân địa phương ở đây tự tạo nên. Thấy năng suất và hiệu quả kinh tế cao, ông đã  đầu tư tiền mua ba máy và sau đó tăng lên tám máy dệt với số vốn gần 250 triệu đồng. Ông Phú kể: “Hồi mới đầu, nhiều người đến xin làm lắm. Lúc cao điểm, cơ sở có 15 nhân công, ăn lương theo sản phẩm, mỗi chiếc 16.000 đồng. Trung bình mỗi ngày, một người làm được 9 chiếc chiếu với tiền lương khoảng gần 150.000 đồng/ 1 ngày. So với làm chiếu thủ công, năng suất và chất lượng của sản phẩm chiếu máy cao hơn nhiều”.

Đưa máy móc vào nghề dệt truyền thống đã góp phần nâng cao thu nhập của người làm nghề. Đây là một trong những bước đột phá trong phát triển kinh tế làng nghề cũng như kinh tế nông thôn ở Duy Vinh. Tuy nhiên, để chuyển sang dệt máy cần phải có vốn mua sắm máy móc và nguyên liệu dự trữ sử dụng trong năm. Chính vì vậy, hiện Duy Vinh chỉ mới có ba cơ sở dệt chiếu máy với khoảng 25 khung dệt. Trong giai đoạn đầu, những cơ sở sản xuất dệt chiếu máy khá nhộn nhịp. Tuy nhiên, thời gian gần đây, nhiều cơ sở dệt máy, công nhân thưa vắng dần. Trước đây cơ sở của ông Phú có 15 nhân công thì giờ chỉ còn 2-3 người. Giờ ông phải trực tiếp làm những công việc mà trước đây công nhân phụ trách. Nhìn mấy chiếc máy dệt chiếu bỏ không, ông Phú ngậm ngùi nói: “Hồi xưa người ta tới xin làm liên tục. Bây giờ mình bỏ máy đó nhưng đâu có ai tới xin làm đâu. Có lẽ người làm nghỉ hết thì mình cũng nghỉ thôi.”.  Ông Trần Văn Sành, Phó Chủ tịch UBND xã Duy Vinh, huyện Duy Xuyên cho biết thêm: “…Duy Vinh cách Hội An khoảng 5km. Với kinh tế du lịch ngày càng phát triển, thu hút lao động ngày càng nhiều, hầu hết lực lượng lao động ở xã Duy Vinh nếu không vào nhà máy cũng qua Hội An làm dịch vụSo với làm chiếu thủ công thì làm chiếu máy cho thu nhập cao hơn nhưng nghề này vẫn còn thấp so với những ngành nghề lao động phổ thông khác.”

Thiếu lao động đặc biệt là lao động trẻ là thực trạng chung của nhiều làng nghề truyền thống hiện nay. Toàn tỉnh có 44 làng nghề và làng nghề truyền thống. Trong đó có 28 làng nghề, làng nghề truyền thống được UBND tỉnh công nhận. Tổng số lao động trong làng nghề khoảng gần 6.000 người nhưng chủ yếu là lao động nữ, trung niên, lớn tuổi.  Lao động trẻ rất ít. Bên cạnh đó, sản xuất ngành nghề còn manh mún, nhỏ lẻ, thiếu liên kết, năng suất thấp, nguồn nguyên liệu ngày càng khan hiếm, không ổn định.  Những khó khăn này khiến nhiều làng nghề không phát triển trong kinh tế thị trường nhiều cạnh tranh.

Dệt chiếu

Hiện nay, tỉnh chủ trương phát triển các làng nghề, làng nghề truyền thống gắn với chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, tạo ra những sản phẩm đặc trưng, mang dấu ấn, thương hiệu của địa phương. Trong đó chú trọng quy hoạch làng nghề gắn với các điểm, tuyến du lịch phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội đồng thời triển khai xây dựng quy hoạch các vùng nguyên liệu như đất sét, đất trồng cói, lác, tre, mây… Trong khi chờ đợi những chủ trương này đi vào cuộc sống thì vấn đề duy trì làng nghề nhằm giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của bộ phận nông thôn đồng thời bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa, nghề nghiệp của các làng nghề truyền thống đang là một bài toán khó cho chính quyền các địa phương.

X.B