Thương nhớ khoai lang

Cứ vào cử tháng bảy, khi nắng đã bắt đầu mang vị nóng và hanh là vào vụ chính của khoai lang, vụ mùa mà đám trẻ em thích nhất, vì vậy, những đứa trẻ khi rời khỏi đồng làng, cứ sau Tết Đoan Ngọ, ngóng ngọn gió nồm từ biển lòng nao nao nhớ về quê xứ, nhớ vụ khoai mùa.

Ở quê dẫu dư dả thứ thanh bần như sắn lùi, mít luộc, chuối cây… thì cũng ít có loại cây nào đôn hậu như khoai lang. Lá khoai nấu canh chỉ cần nêm tí muối, bỏ thêm cục đường đen là khó tính như bà nội cũng cứ hít hà khen thằng cháu khéo tay siêng nấu nướng. Ngọn khoai luộc chung với măng vòi chấm nước mắm cáy kèm mấy lát ớt tươi thì đi tong nồi cơm độn mà sắp nhỏ cũng còn chép miệng thòm thèm. Củ khoai là lương thực dự trữ quanh năm, thêm tài chế biến của người quê làm cho mấy ông bác bà cô sang chảnh tận bên Mỹ mỗi bận về quê cũng phải bị đùm bao túm nào khoai khô, khoai chẽ, khoai dai, mang sang tận Hoa Kỳ để mà thỏa cái lòng nhung nhớ quê cha đất tổ. Nhưng phải đến dây khoai, cái thứ dư tưởng bỏ đi sau vụ mùa thu hoạch mới là món mà bọn trẻ chăn trâu thích nhất. Dây khoai bỏ hoang ngoài đầu bờ cuối bãi, ngấm độ đôi ba nắng, bốc lên vị thơm ngọt làm mấy chú Nu, chú Nỗng (tên gọi mấy con trâu, con bò) mê tơi. Nu Nỗng thong dong nhai nhá, thong dong đuổi vằn đuổi muỗi còn lũ trẻ tha hồ lang thang đào dế, bắt chim. Khoai lang đôn hậu bởi cống hiến hết mình từ gốc rễ đến lá cành mà chẳng chút đòi hỏi chi cho mình, chẳng đòi hỏi ai hậu đãi. Cứ cắt đoạn một khúc thân, vùi nông trên luống đất rồi khoai cứ tự mình lớn lên, tự mình ra hoa ra lá, tự mình kết tinh thành củ chờ đợi người đến nhặt về. Ngoài ra thì gò bãi nơi nào khoai cũng yên phận mình.

Bởi khoai thương người quê lam lũ nên tự nguyện làm bạn với quê suốt đời. Khoai là sự sống, là niềm vui, là tấm lòng thơm thảo. Hàng xóm đi qua mượn cái rựa, thấy nồi khoai luộc nóng còn bốc khói, tiện tay bốc mấy củ đem về cho sắp nhỏ ở nhà mà chẳng cần xin xỏ, nó là cái sự tự nhiên. Hàng xóm ghé qua mượn người làm công, thấy cả nhà quay quần bền rổ khoai luộc là tự nhiên sà vào, bóc vỏ, chấm muối đậu – mè ăn ngon lành, nói hết chuyện bao đồng này đến chuyện bao đồng khác, cái chuyện công cán từ từ hẳn hay. Lũ nhỏ gặp mùa khoai, khi trâu bò thảnh thơi nhai cỏ, đứa nào siêng siêng thì đi đào đi mót, lưng chừng nửa buổi đã được một bao tải đầy, chiều khệ nệ lưng trâu, bao khoai nằm ngang phía trước, về được mẹ khen: “Con cái siêng làm về sau sợ chi chết đói”.

Nhớ khoai là nhớ mẹ, mẹ giọt giọt mồ hôi đội bó dây khoai dưới trời nắng lơ nắng lửng, về chưa kịp thở đã vội vội vàng vàng lo chuyện cơm nước. Nhớ khoai là nhớ cha, cha thương nội nên bữa cơm độn khoai độn sắn cha thường giành hết phần khoai sắn phần mình, dành phần cơm cho nội…! Nhớ khoai là nhớ chị, chị tuổi đôi mươi quý màu da sắc tóc mà nào có biết đến mỹ phẩm là gì. Nước lá khoai luộc uống vào sáng da lắm, dọc hàng khoai thường mọc nhiều cây rau sam, chị đem về phơi khô sắc nước uống quanh năm, nước rau sam mát làm da mặt mịn bâng không còn hột mụn. Nhớ khoai là nhớ tôi ngày chăn trâu cắt cỏ làm nên một tuổi thơ rất đỗi hồn nhiên:

Chăn trâu cắt cỏ trên đồng

Rạ rơm thì ít, gió đông thì nhiều

Mải mê đuổi một cánh diều

Củ khoai đốt để cả chiều thành tro.

(Thơ Đồng Đức Bốn)

Nhớ khoai là nhớ tình nghĩa mẹ cha. Không biết cha yêu mẹ tự bao giờ, chỉ biết đến tuổi lục tuần giọng hò khoan của cha hãy còn đượm nghĩa đượm tình lăm lắm:

Ngó lên trên rẫy khoai lang

Đốn tre đan sịa cho nàng phơi khoai.

Cha à cha ơi, ước chi thời con lớn lên xóm làng đừng lắm nhà lầu xe máy, gò bãi đừng vội khoanh vùng làm khu công nghiệp đan may giày dép, rừng rẫy đừng bị khoanh thành rừng keo lá tràm… để con mượn câu hát của cha mà tặng người hàng xóm. Để người hàng xóm không vội bỏ chàng trai quê mà chạy tuốt vô miền Nam làm thư ký cho ông chủ giày da. Không biết bây chừ ở thị thành hoa lệ mấy cô gái quê vừa kịp lên màu nước có còn nhớ một góc quê xứ Quảng đượm tình khoai sắn? Ước chi con là thi sĩ để viết thêm mấy vần thơ đượm tình cỡ thi sĩ Tường Linh mà gọi người về:

Sông Thu chẳng thiếu đò đưa

Ngọt khoai Tiên Đõa, máy dừa Kiến Tân

Quế Sơn núi liếp mấy tầng…

(Thơ Tường Linh)

 

Bây giờ lưu lạc thị thành, cái chữ cái nghĩa nó dắt con người trôi dạt bốn phương, cái người nhà quê trong mình mỗi lúc vắng lặng lại ngoi ngóc nhớ quê. Mà nói chi là lúc vắng người, ngay cả khi bạn bè xôm tụ, hải sản một mâm, bia bọt mấy thùng lại nao nao lòng, mẹ cha xưa ngày giỗ ngày quảy, nhưng ngày Tết nhứt đã được thế này chưa nhỉ? Mà sao miếng ngon đưa vô miệng cứ chát xít một mùi toan tính, ngẫm mà thèm cái ăn thanh bần thanh thản của ngày xưa ở quê nhà. Miền quê trung du ruộng đồng đã ít lại còn khô cháy, hạt gạo chắt chiu ăn không đủ bữa, khoai sắn thay nhau gánh bữa trừ, vậy mà mẹ khi cầm củ khoai lang chấm muối lại ngâm nga:

Ví dầu ông ký ông cai

Ăn cơm no bụng thấy khoai cũng thèm.

Bạn bè có đứa hứng chí rủ nhau: Mai mốt về nhà ông chơi, ở lại vài ngày, coi như là đi thực tế trung du. Tôi cũng hứa bằng cả lòng nhà quê hiếu khách, lòng thầm nghĩ thế nào cũng có một nồi khoai lang luộc.

V.A