Sự biến đổi loại hình sản phẩm và sinh hoạt lễ hội

Thạc sĩ Sử học Nguyễn Thị Ngà, cán bộ nghiên cứu của Bảo tàng Quảng Nam cho rằng trong những giai đoạn phát triển cực thịnh, hoạt động của làng gốm Thanh Hà không chỉ thúc đẩy sản xuất nội địa mà có lúc còn tham gia tích cực vào quá trình xuất khẩu thông qua thương cảng quốc tế Hội An: “Kết quả khai quật khảo cổ tại Nhật Bản đã chứng minh có một số lượng lớn bình chứa được chất lên từ cảng Hội An để đưa tới Nhật Bản. Loại bình thân dài khả năng được sử dụng để đựng các mặt hàng như trầm hương, mật ong, sơn đen, đường, mật, dầu cá voi… Trong những chuyến đi dài ngày, các thương lái rất chú ý đến việc bảo quản chất lượng sản phẩm. Vì vậy mà những bình chứa bằng sành có thể đáp ứng được yêu cầu. Điều này đã tạo điều kiện để lò gốm Thanh Hà phát triển loại hình sản phẩm để phục vụ nhu cầu xuất khẩu. Nhà nước thu lợi từ nguồn thuế xuất khẩu, người sản xuất thu lợi từ việc bán sản phẩm và thợ gốm Thanh Hà thu lợi từ việc bán các đồ đựng cho thương lái và người sản xuất”.

Theo kết quả nghiên cứu của Trung tâm Quản lý bảo tồn di sản văn hóa Hội An, gốm truyền thống của làng nghề Thanh Hà khá đa dạng với hơn 40 loại sản phẩm khác nhau, gồm các đồ gia dụng như hũ, vại, nồi, thạp, diệm, trả, om, bình vôi… các loại dùng để đựng nước, muối mắm, các loại ngũ cốc, thổ sản…; dụng cụ sản xuất cho nghề dệt, nghề làm đường ở xứ Quảng cùng các loại gạch, ngói. Về kiểu dáng: các loại hũ thì miệng loe, cổ eo; vai, đáy thuôn, trôn bằng. Nồi, niêu, chảo, siêu gốm… cùng chung kiểu miệng loe, vành miệng được vê tròn, cổ eo, ngắn, bụng phình to, đáy tròn. Làng nghề Thanh Hà cơ bản vẫn trung thành với dòng gốm không tráng men, da láng hoặc thô, xương gốm mịn, đa số không có hoa văn, riêng một vài loại hũ được trang trí viền răng cưa nổi, văn lượn sóng ở cổ, vai…

Do tác động của chiến tranh và sự cạnh tranh khốc liệt của các hàng hóa công nghiệp, từ sau năm 1945, nghề gốm Thanh Hà thu hẹp dần quy mô sản xuất, có giai đoạn đối mặt với nguy cơ tàn lụi. Tuy nhiên, người làng gốm vẫn cố gắng duy trì sản xuất, đồng thời họ mày mò tạo ra những sản phẩm mới để bảo tồn nghề nghiệp của tổ tiên. Trong bối cảnh đó từ cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, con thổi hay còn gọi là con tò he đã ra đời,  chế tác theo các mô típ văn hóa truyền thống như bộ 12 con giáp, con thổi hình trẻ chăn trâu…, gọn nhẹ, tạo âm thanh vui tai nên được nhiều du khách ưa thích. Trên đà sáng tạo, nghề gốm Thanh Hà đã chuyển sang một bước phát triển mới, đó là sản xuất gốm mỹ nghệ. Người có công đầu trong cuộc cách tân này là nghệ nhân Lê Quốc Tuấn. Cũng từ đây nghề Thanh Hà  có thêm một dòng gốm mới, mang kỹ thuật và phong cách hiện đại nhưng vẫn giữ được bản sắc của gốm dân gian truyền thống. Nghệ nhân Lê Quốc Tuấn – Làng nghề gốm Thanh Hà, TP. Hội An, Quảng Nam: “Ngày xưa ông bà mình dùng lu, lọ… trong sinh hoạt hàng ngày nhưng hàng công nghiệp lấn hết rồi. Với lại sản phẩm làm bằng bàn xoay rất đơn điệu, quanh đi quẩn lại cũng chừng ấy thứ. Nhận thấy Thanh Hà đón rất nhiều du khách, tôi nghĩ sao mình không làm sản phẩm bán cho đối tượng này và sản phẩm cho các khu nghỉ dưỡng. Từ đó tôi làm gốm mỹ nghệ, sản phẩm bán chạy, thấy vậy trong làng nhiều người làm theo, tạo ra hướng đi mới cho làng nghề”.

Lễ giỗ tổ làng gốm Thanh Hà

Gốm mỹ nghệ được chế tác khá công phu. Nghệ nhân tạo khuôn bằng thạch cao với mẫu mã đa dạng, phong phú. Đồ án trang trí thường là Hán tự có ý nghĩa cát tường, hoa văn hình học, tên đơn vị kinh doanh… Để da gốm được mịn màng, thợ gốm đánh, lắng, lọc đất thành dung dịch mịn rồi đổ vào khuôn, sau 12 giờ đất rắn lại thì phơi phôi. Cũng có sản phẩm được tạo áo gốm bằng vỏ trứng. Phôi gốm mỹ nghệ có thể được nung trong lò bầu hoặc nung riêng ở lò ngửa. Hiện gốm mỹ nghệ của Thanh Hà có ít nhất 33 loại sản phẩm gồm đèn gốm áp tường, con tiện, chậu, lọ hoa, mặt nạ gốm, các loại tượng, mô hình các công trình kiến trúc,… Những sản phẩm này được nhiều cơ sở du lịch, dịch vụ ở Hội An, Đà Nẵng, Huế, Đà Lạt, thành phố Hồ Chí Minh đặt hàng để trang trí nội – ngoại thất. Khách du lịch khi đến tham quan làng gốm Thanh Hà cũng rất thích mua một số sản phẩm gốm mỹ nghệ để làm quà lưu niệm.

Ngoài các sản phẩm gốm gia dụng, mỹ nghệ, thợ gốm Thanh Hà còn chế tác các sản phẩm tín ngưỡng như tượng thờ ông Táo; địa bàn tiêu thụ gồm Hội An, Đà Nẵng, Tam Kỳ và thành phố Huế. Sức sống bền bỉ, bất chấp thăng trầm thời cuộc cho thấy một khi bám chắc vào mạch nguồn văn hóa truyền thống, nghề gốm Thanh Hà có thể tồn tại và sáng tạo ra những giá trị mới làm bệ đỡ cho sự phát triển. Thạc sĩ Văn hóa học Phùng Tấn Đông vốn dân làng gốm Thanh Hà nên rất am hiểu chuyện làng nghề: “Ngày xưa người Thanh Hà chế tạo con thổi, dân gian gọi là con tò he chỉ là để cho trẻ con chơi Tết, thổi cho vui, nhưng từ khi du lịch phát triển thì nó là mặt hàng bán chạy cho du khách, bởi nó thô mộc, gần gũi, nhỏ nhắn và rẻ tiền. Rất nhiều hộ làm tò he nên có người nói đùa tò he đã nuôi làng gốm. Sau đó thì họ chuyển qua gốm mỹ nghệ đúc khuôn, tranh gốm, gốm sành có trang trí, tô điểm. Các nghệ nhân trẻ như Lê Xê, Nguyễn Xê, anh Sơn đã nghiên cứu một số loại men để trang trí, điểm xuyết thêm, mà đồ sành có chút men vô rất lung linh, rất đẹp, thích gốm hiện đại, giữ được lâu. Tuy nhiên đừng đi quá xa, sao chép các làng nghề khác. Thanh Hà nên giữ gốm sành nâu và gốm đỏ”.

Thi nặn con tò he

Sau hơn 500 năm tồn tại làng gốm Thanh Hà cũng đã tạo dựng đắp bồi được nhiều giá trị văn hóa đặc sắc liên quan đến làng nghề, bao gồm các công trình kiến trúc và tín ngưỡng nghề nghiệp. Công trình thờ tự quan trọng nhất của cộng đồng thợ gốm Thanh Hà là khu Miếu tổ nghề gốm Nam Diêu. Tại đây, lễ tế xuân được thợ làng gốm tổ chức vào ngày mồng 10 tháng Giêng, đánh dấu sự khởi đầu một năm sản xuất và cầu xin nhân hòa vật thuận, công việc làm ăn được hanh thông. Trong lễ tế xuân có tục tống Long Chu, một mô hình thuyền rồng, bên trong chứa lễ vật. Cúng xong Long Chu được thả ra sông Thu Bồn với ý nghĩa tống trừ điều xấu, cầu điều lành cho cộng đồng. Tại miếu tổ nghề, thợ gốm cũng chọn những ngày chẵn của trung tuần tháng Giêng hằng năm đề cúng mở lò, mở hàng đầu năm. Đặc biệt, trước đây, còn có lễ ra mắt Tổ nghề cho những thợ chuốt trẻ trong làng vừa mới học chuốt xong để cáo với Tổ nghề  rằng từ đây họ đã bước vào nghề chuốt và cầu được phù hộ sự nghiệp được an lành. Kết thúc một năm sản xuất, vào ngày mồng 10 tháng 7 âm lịch, thợ gốm Thanh Hà lại tổ chức tế thu, tạ ơn các vị thần đã độ trì cho công việc làm ăn của dân làng. Trong các lễ tế xuân, tế thu đều có phối tế Trời đất, Thành hoàng ấp, âm linh, Ngũ Hành, Sơn tinh nhị vị, Bạch mã Thái giám. Những năm gần đây trong lễ tế tổ nghề, phần hội cũng được tổ chức với nhiều nội dung phong phú liên quan đến hoạt động làng nghề như trưng bày các mẫu mã sản phẩm, các cuộc thi chuốt gốm, thi nặn các con thổi, thi nấu cơm niêu… Những cuộc thi sôi động, hấp dẫn không chỉ lôi cuốn cộng đồng dân làng mà còn thu hút du khách xa gần đến chung vui.

Đặc biệt từ năm 2004 làng gốm Thanh Hà đã phục hồi được nghệ thuật hát Tuồng. Hoạt động của đội Tuồng làng gốm Thanh Hà là tín hiệu vui, góp phần bảo tồn một loại hình nghệ thuật truyền thống đặc sắc, đồng thời có ý nghĩa tích cực trong việc giáo dục đạo đức, lịch sử, thẩm mỹ cho người dân địa phương.  Ông Trương Hoàng Vinh – Trưởng phòng Quản lý di tích, Trung tâm Quản lý bảo tồn Di sản văn hóa Hội An cho biết định hướng phát triển nghề gốm Thanh Hà thời gian tới: “Chính quyền, ngành chức năng thành phố xác định phải giữ được không gian, cảnh quan làng nghề; bảo tồn kỹ thuật sản xuất gốm truyền thống để phát triển du lịch và tạo sinh kế, chia sẻ lợi ích cho dân làng nghề; phát huy tốt các giá trị lễ hội theo hướng ngày càng quy mô hơn. Hiện tại làng nghề đã có một doanh nghiệp tư nhân xây dựng bảo tàng gốm, hướng đi này đang được thúc đẩy để tận dụng nguồn lực doanh nghiệp nhằm phát huy và tạo ra các giá trị văn hóa mới cho làng nghề”.

Các lò gốm Thanh Hà vượt qua bao biến thiên của thời cuộc vẫn đỏ lửa. Người làng gốm có quyền tự hào về những nỗ lực to lớn ấy. Kế tục lớp lớp tiền nhân, họ đã lao động nhẫn nại, sáng tạo để duy trì sức sống bền bỉ của một làng nghề. Nghề gốm Thanh Hà đương đại không chỉ bảo lưu được những kỹ thuật truyền thống quý giá mà còn tiếp biến, sáng tạo những giá trị văn hóa mới. Chính vì vậy, sự tồn tại và phát triển của làng nghề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn lao.

V.L

   * Trong bài viết có sử dụng kết quả nghiên cứu của Trung tâm Quản lý bảo tồn di sản văn hóa Hội An